- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "bà Trần Thị Bích N khởi kiện xin được ly hôn với ông Phan Văn T"
- Tòa quyết gì? * Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Trần Thị Bích N đối với ông Phan Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG ————————— | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/HNGĐ - ST Ngày: 17- 5- 2023 V/v “Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN SƠN TRÀ, TP. ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Tô Thị Thy Tuyết.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Đoàn Văn Đức.
2. Ông Nguyễn Văn Đời.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thái Phƣơng Dung – Thư ký Tòa án của TAND quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hƣơng Thu - Kiểm sát viên.
Trong ngày 17 tháng 5 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2023/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 02 năm 2023 về Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 03 tháng 4 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 44/2023/QĐST- HPT ngày 27 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bích N, Sinh năm: 1991.
Nơi cư trú: Tổ 40, phường M, quận S, thành phố Đà Nẵng. Có mặt.
2. Bị đơn: Ông Phan Văn T. Sinh năm: 1985.
Nơi cư trú: Số 26 đường A, Tổ 04 phường A1, quận S, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện, tại bản tự khai cũng như tại phiên tòa nguyên đơn bà Trần Thị Bích N trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà xây dựng gia đình với ông Phan Văn T vào năm 2011, hôn nhân trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng.
Vợ chồng chung sống với nhau đến năm 2012 thì phát sinh mâu thuẩn, nguyên nhân là do ông T nghiện ngập, không có trách nhiệm với gia đình, bà cũng đã nhiều lần khuyên nhủ ông T từ bỏ cuộc chơi để về sống với gia đình, nhưng ông T có bỏ những thói hư tật xấu một thời gian và tính nào vẫn tật đó, vẫn âm thầm đi chơi, không có trách nhiệm với gia đình, thậm chí có lúc còn đánh đập bà, chửi gia đình bà không ra gì. Do mâu thuẩn vợ chồng xảy ra nên bà về nhà cha mẹ sống từ năm 2012 đến nay, không ai có trách nhiệm gì với nhau. Nay bà xác định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng không thể hàn gắn được nữa, nếu kéo dài cuộc hôn nhân này cũng không đem lại kết quả, vì vậy bà xin được ly hôn với ông Phan Văn T.
- Về nuôi con chung: Bà Trần Thị Bích N xác định không có con chung.
- Về tài sản chung: Bà Trần Thị Bích N xác định không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Bà Trần Thị Bích N xác định không có nợ chung.
* Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ bị đơn ông Phan Văn T đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án ly hôn nhưng ông Phan Văn T không đến Tòa án nên không ghi được lời trình bày.
* Tại phiên tòa, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của những người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị HĐXX căn cứ Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình giải quyết:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện ly hôn của bà Trần Thị Bích N đối với ông Phan Văn T. Đề nghị HĐXX xử cho bà Trần Thị Bích N được ly hôn với ông Phan Văn T.
- Về con chung: Bà Trần Thị Bích N xác định không có con chung nên không đê cập đến.
- Về tài sản chung, nợ chung: Bà Trần Thị Bích N xác định không có. Ông Phan Văn T không có lời khai nên không xác định tài sản chung và nợ chung, do đó không đề cập đến. Nếu sau này có tranh chấp thì ông Phan Văn T, bà Trần Thị Bích N có thể khởi kiện bằng một vụ án khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Đây là vụ án Ly hôn. Bị đơn ông Phan Văn T đang cư trú tại số 26 đường An Nhơn 10, tổ 04 phường An Hài Bắc, quận Sơn Trà, thành phố Đà Nẵng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Tòa án nhân dân quận Sơn Trà đã tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn ông Phan Văn T nhưng tại phiên tòa ông Phan Văn T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào khoản 3 Điều 228 của BLTTDS, Tòa án tiến hành xét vử vắng mặt bị đơn ông Phan Văn T.
Về nội dung vụ án:
Bà Trần Thị Bích N và ông Phan Văn T xây dựng gia đình với nhau vào năm 2011, hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường An , quận S, Tp Đà Nẵng. Đây là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận và bảo vệ.
Trong quá trình chung sống vợ chồng có phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẩn theo bà Trần Thị Bích N trình bày là do ông T nghiện ngập, không có trách nhiệm với gia đình, bà cũng đã nhiều lần khuyên nhủ ông T từ bỏ cuộc chơi để về sống với gia đình, ông T có bỏ những thói hư tật xấu một thời gian và tính nào vẫn tật đó, vẫn âm thầm đi chơi, không có trách nhiệm với gia đình, thậm chí có lúc còn đánh đập bà, chửi gia đình bà không ra gì. Do mâu thuẩn vợ chồng xảy ra nên bà về nhà cha mẹ sống từ năm 2012 đến nay, không ai có trách nhiệm gì với nhau. Quá trình tố tụng cũng như tại phiên toà, bà N xác định mâu thuẫn vợ chồng đã thật sự trầm trọng không còn khả năng hàn gắn được nữa nên nguyện vọng của bà xin được ly hôn ông Phan Văn T. Còn bị đơn ông Phan Văn T mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng ông vắng mặt không có lý do.
Xét yêu cầu xin ly hôn của bà Trần Thị Bích N thì thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã triệu tập hợp lệ ông Phan Văn T nhiều lần để hoà giải cũng như tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng ông T không chấp hành. Điều này thể hiện ông T vừa coi thường pháp luật, vừa thờ ơ với việc hàn gắn hạnh phúc gia đình, bản thân ông Phan Văn T không còn thiện chí xây dựng hạnh phúc gia đình với bà N nữa, mặt khác mâu thuẩn vợ chồng mà bà N trình bày cũng phù hợp với các thông tin mà chính quyền địa phương nơi ông, bà đang cư trú cung cấp. Điều đó chứng tỏ mâu thuẩn vợ chồng ông, bà đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, HĐXX căn cứ Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của bà Trần Thị Bích N là phù hợp.
Về nuôi con chung: Bà Trần Thị Bích N xác định không có con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Ông Phan Văn T vắng mặt không ghi được lời khai nên không xác định được khối tài sản chung và nợ chung của vợ chồng là có hay không, do đó HĐXX thấy cần phải tách phần tài sản chung và nợ chung không giải quyết. Nếu sau này một trong hai bên có đơn khởi kiện kèm theo chứng cứ chứng minh thì Toà án có thẩm quyền sẽ giải quyết bằng một vụ án dân sự khác.
Án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đồng bà Trần Thị Bích N phải chịu theo quy định của pháp luật.
Đối với ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân quận Sơn Trà, Tp Đà Nẵng thấy phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 36, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- Căn cứ các Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình;
- Căn cứ Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễm, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Chấp nhận yêu cầu khởi kiện về việc xin ly hôn của bà Trần Thị Bích N đối với ông Phan Văn T.
Tuyên xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho bà Trần Thị Bích N được ly hôn với ông Phan Văn T.
2. Án phí HNGĐ sơ thẩm 300.000đồng bà Trần Thị Bích N phải chịu. Được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự Quận Sơn Trà, TP. Đà Nẵng biên lai thu số 0003505 ngày 09 tháng 02 năm 2023
Đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Riêng đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết tại nơi thường trú.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại các điều 6,7 và điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận : - VKSND quận Sơn Trà; - Chi cục THADS quận Sơn Trà; - UBND phường An Hải Bắc, quận Sơn Trà; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tô Thị Thy Tuyết |