- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ ly hôn giữa NĐ: Chị Vũ Thu H và bị Đơn: anh Lê Hồng Q"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Thu H đối với anh Lê H Q. Chị Vũ Thu H được ly hôn anh Lê H Q.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| ------------ Bản án số: 20/2023/HNGĐ -ST Ngày: 18/5/2023 V/v tranh chấp hôn nhân gia đình |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Đinh Thị Thu Hường Các hội thẩm nhân dân: - Bà Nguyễn Minh Hương
- Ông Nguyễn Xuân Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Thảo - Thư ký tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận Hoàn Kiếm tham gia phiên toà: Ông Trần Việt Phương.
Ngày 18/5/2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm vụ án ly hôn đã thụ lý số 348/2022/LHST ngày 18/10/2022 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2023/QĐXX-ST ngày 06/4/2023 và quyết định hoãn phiên tòa số 36/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27/4/2023 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Vũ Thu H, sinh năm 1980
Địa chỉ: Số 23 H, phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Bị đơn: Anh Lê H Q, sinh năm 1974
Địa chỉ: Số 327 B, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội
Tại phiên toà có mặt chị H. Anh Q vắng mặt lần 2 không lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện, và quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, nguyên đơn Vũ Thị H trình bày như sau:
Về tình cảm: Tôi và anh Q kết hôn ngày ngày 01/8/2007 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, sau khi kết hôn chúng tôi chung sống hạnh phúc đến cuối năm 2017 đầu năm 2018 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn do vợ cH không tìm được tiếng nói chung và hợp tính cách của nhau. Tôi và anh Q đã sống ly thân từ cuối năm 2018, và tôi đã mang 2 con về sinh sống cùng gia đình bên ngoại tại 23 Hàng Cân, phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm từ cuối năm 2018 đến nay, anh Q vẫn chung sống với gia đình bên nội tại 347 Bạch Đằng, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội. Trong thời gian sống ly thân, chúng tôi đã tìm cách khắc phục mâu thuẫn vợ cH nhưng vợ cH vẫn không khắc phục được mâu thuẫn vợ cH. Nay tôi xác định tình cảm vợ cH không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi ly hôn với anh Q
Về con chung: Chúng tôi có 02 con chung là Lê Phương Khánh M, sinh ngày 09/11/2007 và cháu Lê Phương Khánh Th, sinh ngày 08/7/2011. Hiện nay hai cháu đang sống cùng với tôi, tôi là người trực tiếp chăm sóc. Nếu ly hôn tôi có nguyện vọng được nuôi cả hai cháu vì cháu Khánh Th tuy đã 11 tuổi nhưng cháu bị tự kỷ chậm phát triển rất cần có sự chăm sóc của mẹ và chị gái. Về mức cấp dưỡng nuôi con: tôi không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung. Hiên nay tôi làm kế toán, thu nhập khoảng 15.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung:
- Về động sản: Chúng tôi không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về bất động sản: Chúng tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết
- Về nợ chung: Chúng tôi không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về án phí: Tôi đề nghị nộp án phí theo quy định của pháp luật.
Quá trình tham gia tố tụng tại Toà án, bị đơn anh Lê H Q không có lời khai tại Tòa án
Theo cung cấp của địa phương - nơi chị H, anh Q sinh sống: Anh Q và chị H có đăng ký kết hôn tại UBND phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, có tổ chức đám cưới theo phong tục tập quán. Sau khi kết hôn anh, chị chung sống tại 327 Bạch Đằng đến khoảng năm 2020 thì chị H và 02 con chuyển đi nơi khác sinh sống. Khi ly hôn, anh chị không qua hòa giải ở cơ sở nên chúng tôi không biết. Về con chung, nợ chung, tài sản chung của anh Q, chị H chúng tôi không nắm rõ. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên toà:
Chị H đề nghị được ly hôn và được nuôi con chung, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản, công nợ: không yêu cầu tòa án giải quyết
Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên toà phát biểu: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử là đúng quy định của pháp luật. Đối với người tham gia tố tụng là nguyên đơn: kể từ khi thụ lý vụ án đến tại trước khi mở phiên toà đều chấp hành đúng quy định của pháp luật. Vụ án đã vi phạm thời hạn xét xử. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị H; về con chung: giao chị H nuôi 02 con chung, chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản, công nợ: không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Về quan hệ pháp luật: Ngày 01/8/2007 chị H và anh Q có đăng ký kết hôn tại UBND phường Hàng Đào, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội nên là hôn nhân hợp pháp. Nay chị H xác định tình cảm vợ cH không còn nên là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn là anh Lê H Q, trú tại số 327 Bạch Đằng, phường Chương Dương, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội, nên theo quy định tại điểm a, khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm.
Về quá trình tham gia tố tụng: Quá trình giải quyết vụ kiện, chị H chấp hành theo đúng các thông báo của Tòa án. Anh Q không nhận các văn bản tố tụng nên Tòa án đã niêm yết các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật.
Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
- Về tình cảm: Chị H và anh Q có đăng ký kết hôn nên là hôn nhân hợp pháp, nay chị H xác định tình cảm vợ cH không còn, đề nghị ly hôn anh Q. Từ cuối năm 2018, chị H chuyển về nhà mẹ đẻ ở 23 Hàng Cân, không chung sống với anh Q. Chị H làm đơn xin ly hôn anh Q, quá trình giải quyết vụ án, anh Q có biết chị H đề nghị ly hôn, đã nhận văn bản tố tụng của Tòa án, nhưng anh Q không có ý kiến gì và cũng không có biện pháp hòa giải để vợ cH đoàn tụ. Xét thấy mâu thuẫn vợ cH đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được nên xử ly hôn giữa chị H với anh Q theo quy định điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
- Về con chung: Anh, chị có 02 con chung là Lê Phương Khánh M, sinh ngày 09/11/2007 và cháu Lê Phương Khánh Th, sinh ngày 08/7/2011. Hiện nay hai cháu đang sống cùng với chị H, các con cũng đều có nguyện vọng ở với chị H. Nếu ly hôn chị H đề nghị được nuôi dưỡng hai con chung, không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung. Xét đề nghị của chị H là tự nguyện và phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nguyện vọng của 02 con, nên cần giao 02 con chung cho chị H trược tiếp nuôi dưỡng, chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, công nợ: chị H, anh Q không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Tòa án không giải quyết.
Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị H phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điều 56, điều 81, điều 82, điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Điều 28, điểm a, khoản 1 Điều 39, điều 147, điều 272, điều 273, điều 371 Bộ luật tố tụng dân sự. Điều 3, khoản 5 điều 27 nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Xử:
1. Chấp nhận đơn khởi kiện xin ly hôn của chị Vũ Thu H đối với anh Lê H Q. Chị Vũ Thu H được ly hôn anh Lê H Q.
2. Về con chung: Giao 02 con chung là cháu Lê Phương Khánh M, sinh ngày 09/11/2007 và cháu Lê Phương Khánh Th, sinh ngày 08/7/2011 cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị H không yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con chung. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con đối với anh Q cho đến khi có sự thay đổi khác.
Anh Lê H Q có quyền chăm sóc, thăm hỏi con chung, không ai được ngăn cản
3. Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4. Về án phí ly hôn sơ thẩm: chị H phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Số tiền tạm ứng án phí chị H đã nộp tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0052012 ngày 08/11/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm được đối trừ.
Án xử công khai sơ thẩm, chị H có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; anh Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.
| Nơi nhận: - Nguyên đơn, bị đơn - VKSND quận Hoàn Kiếm + Tp Hà Nội. - Tòa án nhân dân Tp Hà Nội. - Chi cục Thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm - Lưu hồ sơ và văn phòng TAND quận Hoàn Kiếm. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA ( đã ký) Đinh Thị Thu Hường |