vanban.org

Bản án 20/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị V:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị V được ly hôn anh Nguyễn Việt H. Về con chung: Giao con Nguyễn Nhật L, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2012 và Nguyễn Nhật L1, sinh ngày 19 tháng 8 năm 2015 cho chị Bùi Thị V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luậ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị V:
  • Căn cứ chính? Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN LÃNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 30-6-2023
V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN LÃNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Bà Phạm Thị Huyền Trang;

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Tới,

2. Ông Vũ Đức Bình.

- Thư ký phiên toà: Bà Đặng Thị Kim Liên - Thư ký Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Văn Tuân - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2022, tại Toà án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 27/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 13/2023/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị V, sinh năm 19xx; nơi cư trú: Số 79, Khu 3, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Việt H, sinh năm 19xx, nơi cư trú: Số 79, Khu 3, thị trấn T, huyện T, thành phố Hải Phòng, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn là chị Bùi Thị V trình bày:

Chị V và anh Nguyễn Việt H kết hôn với nhau tự nguyện, có đăng ký kết hôn với nhau tại Uỷ ban nhân dân thị trấn T ngày 15 tháng 10 năm 2010. Anh chị chung sống được 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình không hợp, vợ chồng bất đồng quan điểm sống; một phần do anh H ham chơi, ít quan tâm đến vợ con, nên tình cảm vợ chồng rạn nứt thường xảy ra cãi nhau, hôn nhân không hạnh phúc. Anh chị đã sống ly thân từ tháng 10 năm 2017 đến nay, không quan tâm đến nhau. Nay nhận thấy vợ chồng không thể đoàn tụ, chị V yêu cầu được ly hôn anh H. Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Nhật L, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2012 và Nguyễn Nhật L1, sinh ngày 19 tháng 8 năm 2015. Hiện các con chung đều do chị V trực tiếp nuôi dưỡng. Anh H là lao động tự do, không có công việc ổn định nên không thường xuyên chăm sóc các con. Khi ly hôn, chị V nhận trực tiếp nuôi cả 02 con. Chị V tự thoả thuận với anh H về việc cấp dưỡng cho con, không yêu cầu Toà án giải quyết. Anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần tống đạt các văn bản tố tụng, yêu cầu anh H giao nộp bản tự khai và các tài liệu, chứng cứ có liên quan đến việc giải quyết vụ án và triệu tập anh H đến làm việc nhưng anh H không thực hiện.

Tài liệu xác minh tại địa phương và gia đình thể hiện: Chị V và anh H có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân thị trấn Tiên Lãng theo quy định pháp luật. Anh chị chung sống được 06 năm thì vợ chồng xảy ra mâu thuẫn, bất hoà do tính tình không hợp, một phần do anh H ham chơi, không quan tâm đến gia đình. Anh chị sống ly thân từ tháng 10 năm 2017 đến nay, không quan tâm đến nhau. Anh chị có 02 con chung hiện do chị V chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh H hiện đi làm xa nhà, không thường xuyên ở nhà nên không có điều kiện trực tiếp nuôi con. Anh chị không có tài sản chung.

Tại phiên toà: Nguyên đơn vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện; bị đơn vắng mặt tại phiên toà lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Thẩm phán đã thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, thông báo về việc thu thập được chứng cứ; mở phiên họp, hoà giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử đúng quy định về thẩm quyền, thời hạn, trình tự, thủ tục tố tụng; phiên toà được mở đúng thời hạn, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ theo quy định tại các điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần, đã tống đạt các tài liệu, thông báo, quyết định của Tòa án nH vẫn cố tình trốn tránh, không trình bày quan điểm của mình về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do là thực hiện chưa đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Xử cho chị Bùi Thị V được ly hôn anh Nguyễn Việt H; giao 02 con chung là Nguyễn Nhật L, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2012 và Nguyễn Nhật L1, sinh ngày 19 tháng 8 năm 2015 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng. Không giải quyết việc cấp dưỡng cho con và tài sản chung do nguyên đơn không yêu cầu giải quyết . Chị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Căn cứ yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị V thì quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là ly hôn, tranh chấp nuôi con; anh Nguyễn Việt H là bị đơn, hiện đang cư trú tại: Số 79, Khu 3, thị trấn Tiên Lãng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn (anh H) đã được Tòa án triệu tập nhiều lần nH không chấp hành triệu tập của Tòa án. Tòa án đã thực hiện cấp, tống đạt, thông báo hợp lệ văn bản tố tụng cho anh H; sao gửi đơn khởi kiện và tài liệu, chứng cứ kèm theo, tạo điều kiện cho anh H thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của pháp luật. Việc anh H không có mặt theo giấy triệu tập, không giao nộp đầy đủ các tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án là tự mình từ bỏ các quyền và không chấp hành các nghĩa vụ của đương sự được quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Căn cứ khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp và do Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.

Nguyên đơn (chị V) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ, vắng mặt tại phiên toà và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn (anh H) đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa, nH vẫn vắng mặt không vì lý do bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, không có đơn đề nghị xet xử vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt chị V, anh H.

- Về nội dung:

Quan hệ hôn nhân giữa chị Bùi Thị V và anh Nguyễn Việt H được xác lập từ ngày 15 tháng 10 năm 2010 là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống vợ chồng hoà thuận được 06 năm thì phát sinh mâu thuẫn do tính tình không hợp; một phần do anh H ham chơi, không quan tâm đến vợ con. Anh chị đã sống ly thân trong thời gian dài (từ tháng 10 năm 2017 đến nay), không quan tâm đến nhau. Như vậy, có đủ căn cứ xác định, tình trạng hôn nhân của anh chị đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được; yêu cầu ly hôn của chị V là có căn cứ, phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình nên cần được chấp nhận, xử cho chị V được ly hôn anh H.

Về con chung: Anh chị có 02 con chung là Nguyễn Nhật L, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2012 và Nguyễn Nhật L1, sinh ngày 19 tháng 8 năm 2015. Kể từ khi ly thân, các con do chị V chăm sóc, nuôi dưỡng tốt; anh H không quan tâm chăm sóc đến các con. Chị V hiện làm nhân viên y tế, có thu nhập ổn định, anh H hiện đi làm xa, không có điều kiện trực tiếp nuôi các con. Các con đều đã trên 7 tuổi và có nguyện vọng ở với mẹ. Do vậy, cần chấp nhận yêu cầu của chị V giao cả 02 con cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn là phù hợp với nguyện vọng của các con và điều kiện nuôi con thực tế của anh chị. Căn cứ khoản 2, 3 Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị V, giao con Nguyễn Nhật L và Nguyễn Nhật L1 cho chị V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Việc cấp dưỡng cho con, chị V tự thoả thuận với anh H, không yêu cầu Toà án giải quyết nên không xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Chị V xác nhận anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56; Điều 81, Điều 82, Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 1 Điều 96, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 266, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án,

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Bùi Thị V:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Bùi Thị V được ly hôn anh Nguyễn Việt H.

2. Về con chung: Giao con Nguyễn Nhật L, sinh ngày 08 tháng 8 năm 2012 và Nguyễn Nhật L1, sinh ngày 19 tháng 8 năm 2015 cho chị Bùi Thị V trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Không giải quyết vấn đề cấp dưỡng cho con do các đương sự không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung: Không giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

4. Về án phí: Chị Bùi Thị V phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm. Chị V đã nộp đủ 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo Biên lai thu số 0006461 ngày 17 tháng 4 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Lãng.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ