- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thùy T "Tranh chấp ly hôn" Lê Thanh P"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thùy T đối với ông Lê Thanh P.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST Ngày: 05-7-2023 “V/v tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MỘC HÓA, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Minh Trọng
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lý Quốc Trưởng
Ông Võ Ngọc Bột
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thành – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.
Ngày 05 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 34/2023/TLST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thùy T, sinh năm 1998
Địa chỉ: Ấp D, xã T, huyện M, tỉnh Long An.
2. Bị đơn: Ông Lê Thanh P, sinh năm 1995
Địa chỉ: ấp K, xã T, huyện M, tỉnh Long An.
Bà Nguyễn Thùy T có mặt, ông Lê Thanh P vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn bà Nguyễn Thùy T trình bày: Bà T và ông P tự nguyện chung sống với nhau từ cuối năm 2018, đến năm 2019 có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có với nhau 01 con chung tên Lê Thanh T1, sinh ngày 18-11-2019. Quá trình chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2022 thì bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẩn, nguyên nhân mâu thuẩn là do ông P thường xuyên ăn nhậu, không lo làm ăn, chăm sóc cho gia đình, mặc dù bà T khuyên nhiều lần nhưng ông P không thay đổi nên cuộc sống hôn nhân không còn hạnh phúc. Đến đầu tháng 03-2023, mâu thuẩn ngày càng trầm trọng hơn nên bà T và ông P đã ly thân cho đến nay, khi ly thân thì con chung sống cùng với bà T.
Nay bà T nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể hàn gắn đoàn tụ được nên khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
Về hôn nhân: Bà T yêu cầu được ly hôn với ông P.
Về con chung: Bà T yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung Lê Thanh T1, sinh ngày 18-11-2019, không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Bà T trình bày không có.
- Ý kiến của bị đơn ông Lê Thanh P: Trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, ông Lê Thanh P vắng mặt và không nộp văn bản thể hiện ý kiến cho Tòa án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Bà Nguyễn Thùy T và ông Lê Thanh P tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện M, tỉnh Long An vào ngày 01-7-2019 nên quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thùy T và ông Lê Thanh P là hợp pháp.
Nguyên đơn bà Nguyễn Thùy T khởi kiện yêu cầu ly hôn với bị đơn ông Lê Thanh P cư trú tại xã T, huyện M, tỉnh Long An nên Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp ly hôn” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc xét xử vắng mặt bị đơn ông Lê Thanh P: Xét thấy ông Lê Thanh P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai theo quy định nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn ông Lê Thanh P.
Về hôn nhân:
Tại phiên tòa, bà T xác định không còn tình cảm với ông P, mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, cuộc sống vợ chồng không thể kéo dài và cương quyết yêu cầu được ly hôn. Xét thấy ông P đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không nộp văn bản thể hiện ý kiến và vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên có đủ căn cứ xác định ông P không quan tâm, không có thiện chí, không mong muốn giải quyết mâu thuẫn, hàn gắn đoàn tụ với bà T. Như vậy căn cứ khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, lời trình bày của bà T về tình trạng mâu thuẫn vợ chồng là có căn cứ chấp nhận. Do đó, Hội đồng xét xử nhận thấy có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa bà T và ông P đã trầm trọng kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, không còn khả năng đoàn tụ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 51 và khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.
Về con chung:
Bà T và ông P có 01 con chung tên Lê Thanh T1, sinh ngày 18-11-2019, do bà T trực tiếp nuôi dưỡng từ khi ly thân cho đến hiện tại. Tại phiên tòa, bà T yêu cầu được quyền tiếp tục nuôi dưỡng con chung.
Xét thấy bà T là người đang trực tiếp nuôi dưỡng con chung, để đảm bảo sự phát triển về mọi mặt của con chung, tránh thay đổi môi trường sống, môi trường học tập nên cần giữ nguyên việc chăm sóc, nuôi dưỡng con chung như hiện tại. Ngoài ra, ông P đã nhận được các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không nộp văn bản thể hiện ý kiến và yêu cầu tranh chấp nuôi con chung. Do đó căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử giao cho bà T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung là đảm bảo quyền lợi và sự phát triển về mọi mặt của con chung.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Bà T không yêu cầu ông P cấp dưỡng nuôi con chung nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết, ông P không nộp văn bản thể hiện ý kiến, yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Bà T trình bày không có, ông P không nộp văn bản thể hiện ý kiến, yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Nguyên đơn bà Nguyễn Thùy T phải chịu án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn ông Lê Thanh P không phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thùy T đối với ông Lê Thanh P.
- Về hôn nhân: Cho bà Nguyễn Thùy T ly hôn ông Lê Thanh P.
- Về con chung: Giao con chung Lê Thanh T1, sinh ngày 18-11-2019 cho bà Nguyễn Thùy T tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của một hoặc cả hai bên, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
2. Về án phí: Bà Nguyễn Thùy T phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010613 ngày 21 tháng 3 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mộc Hóa, tỉnh Long An.
3. Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thùy T có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Lê Thanh P có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Toà án niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Đương sự; - VKSND huyện Mộc Hóa; - Chi cục THADS huyện Mộc Hóa; - Cơ quan đã đăng ký kết hôn; - TAND tỉnh Long An; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Minh Trọng |