vanban.org

Bản án 20/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Thúy D đối với anh Đinh Thanh D1.

Về nuôi dưỡng con chung: Giao Cháu Đinh Hoàng Diễm Ph, sinh ngày 29/01/2009 và cháu Đinh Hoàng Gia B, sinh ngày 21/11/2011 cho anh Đinh Thanh D1 nuôi dưỡng. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị Thúy D có ý kiến chị không phải cấp dưỡng nuôi con, nhưng tại phiên tòa do anh D1 vắng mặt và kh… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "hôn nhân"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Thúy D đối với anh Đinh Thanh D1.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 06-2-2023
“Xin ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG HỒ, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hồng Diễm Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Hằng

2. Bà Huỳnh Kim Phượng

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Hồ Quế Thanh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long: Không thuộc trường hợp tham gia phiên tòa.

Hôm nay, ngày 06 tháng 2 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 523/2022/TLST- HNGĐ ngày 07 tháng 10 năm 2022 về tranh chấp “Xin ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 178/QĐXXST- HNGĐ, ngày 26 tháng 12 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trương Thị Thúy D, sinh năm 1991, nơi cư trú: ấp Phú A, xã Phú , huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long. Hiện đang sinh sống ấp Hòa L, xã Xuân H, huyện Kế S, tỉnh Sóc Trăng. (có mặt)

2. Bị đơn: Anh Đinh Thanh D1, sinh năm 1981 nơi cư trú: ấp Phú A, xã Phú Đ, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 31/8/2022 và trong quá trình xét xử nguyên đơn trình bày:

Vào năm 2009 chị D và anh D1 do quen biết nhau nên tiến đến hôn nhân, có tổ chức đám cưới theo phong tục địa phương. Anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Đ, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long được cấp giấy chứng nhận ngày 23/2/2009.

Trong thời kỳ hôn nhân chị D và anh D1 có 02 con chung tên Đinh Hoàng Diễm Phương, sinh ngày 29/01/2009 và cháu Đinh Hoàng Gia Bảo, sinh ngày 21/11/2011 hiện con chung do anh Dũng nuôi dưỡng.

Sau khi cưới vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó thì phát sinh mâu thuẩn do không hợp tính tình, bất đồng quan điểm sống nên vợ chồng hay cự cải nhau. Chị D đã cố gắng để hàn gắn tình cảm vợ chồng nhưng không được, anh chị đã sống ly thân từ năm 2014 đến nay, trong thời gian sống ly thân chị D và anh D1 không còn quan tâm nhau, chăm sóc lẫn nhau. Chị D xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó chị yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:

Về hôn nhân: Chị Trương Thị Thúy D yêu cầu ly hôn với anh Đinh Thanh D1.

Về con chung: Cháu Đinh Hoàng Diễm Ph, sinh ngày 29/01/2009 và cháu Đinh Hoàng Gia B, sinh ngày 21/11/2011 chị D đồng ý để anh D1 tiếp tục nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

Về quan hệ tài sản: Tự thỏa thuận không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.

Ngày 25/12/2022 chị D có đơn xin không tiến hành hòa giải vì chị và anh D1 không thể thỏa thuận được với nhau.

* Ý kiến trình bày của bị đơn anh D1: Từ khi thụ lý vụ án đến ngày xét xử sơ thẩm bị đơn anh D1 hoàn toàn không có ý kiến gì gửi cho Tòa án.

* Ý kiến trình bày của cháu Ph và cháu B: Nếu cha mẹ ly hôn con muốn sống chung với cha.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị D vẫn giữ yêu cầu khởi kiện về hôn nhân Chị Trương Thị Thúy D yêu cầu ly hôn với anh Đinh Thanh D1. Về con chung: Cháu Đinh Hoàng Diễm Ph, sinh ngày 29/01/2009 và cháu Đinh Hoàng Gia B, sinh ngày 21/11/2011 chị D đồng ý để anh D1 tiếp tục nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con. Về quan hệ tài sản: Tự thỏa thuận không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Chị Trương Thị Thúy D có đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Long Hồ giải quyết ly hôn anh Đinh Thanh D1, sinh năm 1981 cư trú ấp Phú A, xã Phú Đ, huyện Long H, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Ngày 25 tháng 12 năm 2022 chị D có đơn yêu cầu Tòa án không tiến hành hòa giải. Căn cứ Khoản 4 Điều 207 Bộ Luật tố tụng dân sự thì đây là vụ án không tiến hành hòa giải được. Từ khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng như thông báo thụ lý vụ án, được triệu tập hợp lệ dự phiên họp về việc kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hoà giải, triệu tập tham dự phiên tòa sơ thẩm cho anh Đinh Thanh D1 đúng theo quy định của pháp luật nhưng anh D1 hoàn toàn không có ý kiến gì gửi cho Tòa án, cũng như tại phiên tòa hôm nay vắng mặt anh D1. Do đó, căn cứ Khoản 3 Điều 228 Bộ Luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt anh Đinh Thanh D1.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân chị Trương Thị Thúy D và anh Đinh Thanh D1 có đăng ký kết hôn tại UBND xã Phú Đ, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long được cấp giấy chứng nhận kết hôn ngày 23/2/2009 đúng theo quy định tại Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là hôn nhân hợp pháp nên được pháp luật công nhận. Xét yêu cầu xin ly hôn của chị D là hoàn toàn có cơ sở. Bởi vì, về mâu thuẩn vợ chồng giữa chị D và anh D1 trầm trọng là đúng, anh chị có thời gian sống ly thân rất lâu từ năm 2014 đến nay, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, mục đích hôn nhân không đạt được, anh D1 đã được triệu tập tham gia phiên hòa giải nhưng không tham gia và cũng không có ý kiến gì về yêu cầu ly hôn của chị D, nên không có khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng. Căn cứ vào Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Trương Thị Thúy D được ly hôn với anh Đinh Thanh D1.

Về con chung: Cháu Đinh Hoàng Diễm Ph, sinh ngày 29/01/2009 và cháu Đinh Hoàng Gia B, sinh ngày 21/11/2011. Hiện con chung do anh D1 đang nuôi dưỡng. Tại phiên tòa chị D tự nguyện đồng ý để anh D1 tiếp tục nuôi dưỡng cháu Ph và cháu B, chị D không cấp dưỡng nuôi con. Vấn đề giao cháu Ph và cháu B cho anh D1 tiếp tục nuôi dưỡng là sự tự nguyện của chị D và phù hợp với nguyện vọng của cháu Ph và cháu B là tiếp tục được sống với cha, nên Hội đồng xét xử ghi nhận. Đối với vấn đề cấp dưỡng, chị D có ý kiến chị không phải cấp dưỡng nuôi con, nhưng tại phiên tòa do anh D1 vắng mặt và không có ý kiến của anh D1 về vấn đề này, nên Hội đồng xét xử dành riêng cho anh D1 vụ kiện liên quan đến vấn đề cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật nếu có yêu cầu.

Về quan hệ tài sản: Chị Trương Thị Thúy D không tranh chấp không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Chị Trương Thị Thúy D phải nộp số tiền 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Khoản 1 Điều 28, điểm a Khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147; Khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 9, 56 và Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a Khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trương Thị Thúy D đối với anh Đinh Thanh D1. Cho chị Trương Thị Thúy D ly hôn với anh Đinh Thanh D1.

2. Về nuôi dưỡng con chung: Giao Cháu Đinh Hoàng Diễm Ph, sinh ngày 29/01/2009 và cháu Đinh Hoàng Gia B, sinh ngày 21/11/2011 cho anh Đinh Thanh D1 nuôi dưỡng.

3. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Chị Trương Thị Thúy D có ý kiến chị không phải cấp dưỡng nuôi con, nhưng tại phiên tòa do anh D1 vắng mặt và không có ý kiến của anh D1 về vấn đề này, nên Hội đồng xét xử dành riêng cho anh D1 vụ kiện liên quan đến vấn đề cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật nếu có yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con.

4. Về quan hệ tài sản: Chị Trương Thị Thúy D không tranh chấp không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

5. Về án phí sơ thẩm: Buộc chị Trương Thị Thúy D phải nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm. Khấu trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo lai thu số 0004337 ngày 07 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Long Hồ. Vậy chị Trương Thị Thúy D đã nộp đủ không phải nộp thêm.

6. Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6,7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

7. Án xử công khai nguyên đơn có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày, kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ