- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án hôn nhân Tăng Thị Tiên- Huỳnh Thanh"
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| HUYỆN HOÀ BÌNH TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:20/2023/HNGĐ-ST Ngày: 12-04-2023 V/v Tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀ BÌNH, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Xuyên
Các hội thẩm nhân dân:
1/- Ông Võ Tấn Phước
2/- Bà Lê Hồng Thắm
Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Dư - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Trần Trung Kiên- Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 04 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 351/2022/TLST-HN Đ ngày 25 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2023/QĐXX-ST ngày 24 tháng 02 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 36/2023/QĐST-HN Đ ngày 15 tháng 07 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Tăng Thị T, sinh năm 1983
Địa chỉ: Ấp Q, xã R, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
2. Bị đơn: Anh Huỳnh K, sinh năm 1983
Địa chỉ: Ấp Q, xã R, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị T có đơn xin vắng mặt, anh K vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 13 tháng 06 năm 2022 và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là chị Tăng Thị T trình bày: Chị và anh Huỳnh K xây dựng hôn nhân gia đình vào năm 2002, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đến năm 2008 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã R, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.
Quá trình chung sống chị và anh K có 02 (hai) con chung tên: Huỳnh Thị Bích T1, sinh ngày 28/08/2003; Huỳnh Thị Bích H, sinh ngày 23/5/2015. Hiện cháu T1 đã thành niên và có cuộc sống tự lập, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; còn cháu H đang sống cùng với chị T.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có.
Nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn giữa chị và anh K là do anh K thường xuyên nhậu nhẹt, không chăm lo cuộc sống gia đình nên vợ chồng xảy ra xung đột, cự cải nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Trong thời gian sống ly thân, chị T và anh K đã dùng nhiều biện pháp để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không thể hàn gắn được do không còn tình cảm với nhau và hiện tại, chị T không có nguyện vọng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân với anh K.
Nay, chị Tăng Thị T yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị T được ly hôn với anh Huỳnh K; Về con chung: Yêu cầu nuôi con chung là cháu Huỳnh Thị Bích H, sinh ngày 23/5/2015, không yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi con; Còn cháu Huỳnh Thị Bích T1, sinh ngày 28/08/2003. Hiện cháu T1 đã thành niên và có cuộc sống tự lập, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết; Về tài sản chung, nợ chung: Không có, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị T không còn có yêu cầu gì khác.
Đối với anh Huỳnh K không có lời trình bày tại Toà án, đồng thời, anh K cũng không cung cấp cho Toà án tài liệu, chứng cứ đối với yêu cầu của chị Tăng Thị T theo quy định của pháp luật. Tòa án cũng đã tiến hành tống đạt thông báo thụ lý, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa theo đúng quy định của thủ tục tố tụng dân sự cho anh K, nhưng anh K không đến Tòa án. Vì vậy, theo quy định của pháp luật nếu bị đơn không cung cấp, tài liệu, chứng cứ cũng như ý kiến của mình thì Toà án căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
* Về tố tụng: Quá trình từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng trình tự quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung đề xuất: Căn cứ các Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
1. Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tăng Thị T.
2. Về con chung: iao con chung là cháu Huỳnh Thị Bích H, sinh ngày 23/5/2015 cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con do Chị T không yêu cầu. Anh K được quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét.
4. Án phí: Chị Tăng Thị T phải nộp án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn là chị Tăng Thị T khởi kiện yêu cầu ly hôn, tranh chấp về nuôi con với anh Huỳnh K nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn là anh Huỳnh K có địa chỉ tại Ấp Q, xã R, huyện H, tỉnh Bạc Liêu, nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Tại phiên toà, chị Tăng Thị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, anh Huỳnh K vắng mặt. Toà án nhân dân huyện Hoà Bình, tỉnh Bạc Liêu đã tiến hành tống đạt hợp lệ các quyết định tố tụng dân sự cho anh K để tham gia phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án theo yêu cầu ly hôn giữa chị T và anh K theo quy định, nhưng anh K vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị T và anh K.
Về hôn nhân: Chị T và anh K xây dựng hôn nhân gia đình vào năm 2002, có tổ chức lễ cưới theo phong tục tập quán của địa phương, đến năm 2008 có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã R, huyện H, tỉnh Bạc Liêu và đã được Ủy ban nhân dân xã R, huyện H, tỉnh Bạc Liêu cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 08/05/2008. Vì thế, hôn nhân giữa chị T và anh K là hôn nhân hợp pháp và được pháp luật bảo vệ.
Chị T xác định: Về nguyên nhân mâu thuẫn giữa chị T và anh K là do anh K thường xuyên nhậu nhẹt, không chăm lo cuộc sống gia đình nên vợ chồng xảy ra xung đột, cự cải nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc và đã sống ly thân từ năm 2017 đến nay. Từ khi sống ly thân với nhau, chị T và anh K đã dùng nhiều biện pháp để hàn gắn mối quan hệ vợ chồng nhưng không thể hàn gắn được, nên chị T yêu cầu được ly hôn với anh K.
Hội đồng xét xử xét thấy, quan hệ hôn nhân muốn tồn tại bền vững thì phải dựa trên cơ sở tự nguyện; vợ chồng phải biết thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, cùng nhau xây dựng gia đình phát triển. Tuy nhiên, trong quá trình chung sống chị T và anh K không biết tôn trọng nhau để cùng nhau xây dựng gia đình hạnh phúc mà thường xuyên cự cãi nhau, dẫn đến hiện tại chị T và anh K đã phát sinh những mâu thuẫn không thể hàn gắn được. Đối với anh K thì quá trình giải quyết vụ án, Tòa án cũng nhiều lần tiến hành triệu tập hợp lệ anh K đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, xét xử, nhưng anh K vẫn vắng mặt không có lý do. Trong suốt quá trình xét xử vụ án, chị T vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với anh K, không có nguyện vọng hàn gắn mối quan hệ hôn nhân. Điều này cho thấy hôn nhân giữa chị T và anh K đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn giữa chị Tăng Thị T đối với anh Huỳnh K.
Về con chung: Trong quá trình chung sống, chị T và anh K có 02(hai) con chung tên: Huỳnh Thị Bích T1, sinh ngày 28/08/2003; Huỳnh Thị Bích H, sinh ngày 23/5/2015. Hiện cháu T1 đã thành niên và có cuộc sống tự lập, nên chị T không yêu cầu Tòa án giải quyết; còn cháu H đang sống cùng với chị T, chị Tiên có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cháu H.
Hội đồng xét xử xét thấy, theo khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
“ 2. Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con.
Xét thấy, tại thời điểm giải quyết, cháu H đã đủ 07 tuổi trở lên, nên cần phải xem xét nguyện vọng của cháu H để giao cháu cho một bên trực tiếp nuôi dưỡng. Tại biên bản ghi nhận ý kiến của cháu H (BL - 29), cháu H có nguyện vọng được sống cùng với chị T. Mặt khác, hiện nay cháu H cũng đang sống ổn định cùng với chị T. Vì vậy, để đảm bảo quyền lợi của cháu H, đồng thời, đảm bảo sự phát triển bình thường và không làm xáo trộn môi trường sống của cháu ảnh hưởng đến sự phát triển về tâm sinh lý của cháu H, nên cần tiếp tục giao cháu H cho chị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Anh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
[4] Về cấp dưỡng: Chị T không yêu cầu anh K phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị T và anh K thống nhất xác định chị T và anh K không có tài sản chung và không có nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình, chị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Từ những nhận định trên, xét đề nghị của Kiểm sát viên - đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu là có căn cứ nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử:
1/- Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Tăng Thị T đối với anh Huỳnh K, xử cho ly hôn giữa chị Tăng Thị T và anh Huỳnh K.
2/- Về nuôi con chung: iao con chung là cháu Huỳnh Thị Bích H, sinh ngày 23/5/2015 cho chị Tăng Thị T trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục.
Anh Huỳnh K không phải cấp dưỡng nuôi con do chị Tăng Thị T không yêu cầu.
Anh Huỳnh K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3/- Về án phí sơ thẩm hôn nhân và gia đình: Chị Tăng Thị T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Chị T đã nộp tạm ứng án phí 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0003367 ngày 25 tháng 10 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hoà Bình được chuyển thu.
Án xử sơ thẩm công khai, nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hòa Bình; - THADS huyện Hòa Bình; - UBND xã R, huyện H, tỉnh Bạc Liêu; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; | Phan Thị Mỹ Xuyên |