vanban.org

Bản án 20/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Đức Nh được ly hôn. Về án phí: Bà Nguyễn Thị A chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm xin ly hôn. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0006962 ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Chi cục… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Anh - Nhất"
  • Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DI LINH
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 14 - 4 -2023
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Đồng.

Các hội thẩm nhân dân:

1. Ông: K’Đào;

2. Bà: Lê Thị Chung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đoàn Thị Vui –Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh tham gia phiên tòa: Bà K’Dem – Kiểm sát viên.

Trong ngày 14 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 346/2022/TLST-HNGĐ ngày 22 tháng 11 năm 2022 về việc: “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2023/QĐXXST- HNGĐ ngày 06 tháng 3 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2023/QĐST ngày 27 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1971.

Địa chỉ: Thôn 2, xã T, huyện D, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Đức Nh, sinh năm 1970.

Địa chỉ: 191 đường M, TT D, huyện D, Lâm Đồng. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Anh trình bày:

+ Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Đức Nh tự nguyện kết hôn năm 1990, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Việt Hùng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (tỉnh Hà Bắc cũ). Năm 1994 vợ chồng vào huyện Di Linh sinh sống. Cuộc sống chung sống của vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn đến năm 2022 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, có những bất đồng về quan điểm, lối sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, nguyên nhân chủ yếu do ông Nh cờ bạc nên gia đình phải bán tài sản đi để trả nợ; hiện vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2022 đến nay. Từ khi sống ly thân đến nay vợ chồng mỗi người sống một nơi, mạnh ai người đó sống, vợ chồng không còn ai quan tâm, chăm sóc đến nhau. Nay bà A xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Nh, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Nguyễn Thị A được ly hôn ông Nguyễn Đức Nh.

+ Về con chung: Nguyên đơn bà A trình bày vợ chồng có 02 con chung là anh Nguyễn Đức T, sinh ngày 16/02/1992 và chị Nguyễn Thị Ng, sinh ngày 19/02/1995 đều khỏe mạnh và đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung.

+ Về tài sản chung: Tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết.

+ Tài sản nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Nguyễn Đức Nh đã được tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án nhưng không có ý kiến trình bày gửi cho Tòa án; Tòa án đã triệu tập ông Nhất nhiều lần để lấy lời khai, công khai chứng cứ, hòa giải và xét xử nhưng ông Nh đều vắng mặt không có lý do, không chấp hành thông báo, triệu tập của Tòa án.

- Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu quan điểm về tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký là đúng quy định của pháp luật.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị A cho bà Nguyễn Thị A được ly hôn với ông Nguyễn Đức Nh.

Về án phí: Bà A chịu 300.000 đồng án phí xin ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa và ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát. Tòa án nhân dân huyện Di Linh nhận định:

[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập ông Nguyễn Đức Nh đến phiên tòa lần thứ hai nhưng ông Nh vẫn vắng mặt không có lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 - Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Nguyễn Đức Nh theo thủ tục chung.

[2] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị A khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Đức Nh. Do đó quan hệ tranh chấp là: “Ly hôn” theo khoản 1 điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Nơi bị đơn cư trú là huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng nên Tòa án nhân dân huyện Di Linh có thẩm quyền giải quyết vụ án theo điểm a khoản 1 điêu 35 và điểm a khoản 1 điều 39 – Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Đức Nh tự nguyện kết hôn năm 1990, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Việt Hùng, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh (tỉnh Hà Bắc cũ). Năm 1994 vợ chồng vào huyện Di Linh sinh sống. Cuộc sống chung sống của vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn đến năm 2022 thì mâu thuẫn trầm trọng. Nguyên nhân là do vợ chồng không hiểu nhau, có những bất đồng về quan điểm, lối sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, cãi vã, nguyên nhân chủ yếu do ông Nh cờ bạc nên gia đình phải bán tài sản đi để trả nợ; hiện vợ chồng đã sống ly thân từ tháng 6 năm 2022 đến nay. Từ khi sống ly thân đến nay vợ chồng mỗi người sống một nơi, mạnh ai người đó sống, vợ chồng không còn ai quan tâm, chăm sóc đến nhau. Nay bà A xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông Nh, vợ chồng không còn khả năng hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà Nguyễn Thị A được ly hôn ông Nguyễn Đức Nh.

Xét mâu thuẫn giữa bà A và ông Nh đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Điều 51, Điều 53, Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, xử cho bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Đức Nh được ly hôn.

Về con chung: Nguyên đơn bà A trình bày vợ chồng có 02 con chung là anh Nguyễn Đức T, sinh ngày 16/02/1992 và chị Nguyễn Thị Ng, sinh ngày 19/02/1995 đều khỏe mạnh và đã trưởng thành nên không yêu cầu giải quyết việc nuôi con chung. Trong khi bị đơn ông Nh không có văn bản trình bày ý kiến, Tòa án triệu tập nhiều lần nhưng không đến Tòa án làm việc nên không ghi nhận được ý kiến nên Tòa án không đề cập việc giải quyết con chung trong bản án này.

Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn bà A trình bày về tài sản chung tự thỏa thuận phân chia không yêu cầu Tòa án giải quyết, về nợ chung không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong khi ông Nh không đến Tòa án làm việc nên không có lời khai. Vì vậy Tòa án không đề cập giải quyết tài sản chung, nợ chung trong bản án này.

Về án phí: Căn cứ Điều 144; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bà Nguyễn Thị A phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn là phù hợp

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 điều 39; Điều 144; Điều 147, khoản 2 điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 51; Điều 53; Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị A và ông Nguyễn Đức Nh được ly hôn.

2. Về án phí: Bà Nguyễn Thị A chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí sơ thẩm xin ly hôn. Được trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai số 0006962 ngày 22 tháng 11 năm 2022 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Di Linh.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án hôm nay, các đương sự có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm đồng để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ