- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị Kim Xuyến tranh chấp ly hôn với Nguyễn Quốc L"
- Tòa quyết gì? Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH GIA LAI Bản án số : 20/2023/HNGĐ-ST Ngày : 06/9/2023 “V/v tranh chấp ly hôn”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHƯ PĂH - GIA LAI
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bảo
- Các Hội thẩm nhân dân:
+ Bà Hoàng Thị Hải;
+ Bà Hoàng Thị Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Nữ Hương Giang
- Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh – Gia Lai tham gia phiên tòa: ông Lưu Thành Chung.
Ngày 06 tháng 9 năm 2023, tại Hội trường xét xử TAND huyện Chư Păh mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 05/2023/HNGĐ -ST, ngày 30 tháng 01 năm 2023 về tranh chấp: “Tranh chấp ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:05/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 7 năm 2023 và quyết định hoãn phiên tòa số: 05a/2023/QĐST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Hồ Thị Kim X, sinh năm 1985 (Có mặt)
Địa chỉ: 557 Ngô Quyền, xã Trà Đa, TP.Pleiku, tỉnh Gia Lai
- Bị đơn: Anh Nguyễn Quốc L, sinh năm 1983 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn 5, xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 26 tháng 01 năm 2023 của chị nộp ngày 27 tháng 01 năm 2023, bản tự khai, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn chị Hồ Thị Kim X trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Quốc L tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, đăng ký kết hôn tại UBND xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai vào ngày 09/3/2021. Vợ chồng chung sống hạnh phúc được vài tháng thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do anh L không chung thủy, thường xuyên liên lạc và quan hệ tình cảm với vợ cũ, chị đã nhiều lần khuyên nhủ anh L nhưng anh L không nghe, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, trong lúc cãi cọ anh L đã có lần đánh chị, sau nhiều lần thuyết phục anh L không được anh chị đã sống ly thân từ khoảng cuối năm 2021 đến nay. Nay chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh L.
Về con chung: anh chị không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết
Về tài sản chung và các nghĩa vụ chung khác: anh chị tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài ra chị không yêu cầu gì khác.
- Đối với bị đơn anh Nguyễn Quốc L: Sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cập, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo về việc nêu ý kiến đối với phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng chứ, Thông báo về phiên hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử,quyết định hoãn phiên tòa theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự nhưng anh L đều không đến làm việc, không cung cấp cho Tòa án các văn bản trình bày ý kiến về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và các tài liệu chứng cứ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai phát biểu ý kiến:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký và nguyên đơn là đảm bảo theo quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn vắng mặt, do đó Hội đồng xét xử vắng mặt bị đơn là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Chị Hồ Thị Kim X và anh Nguyễn Quốc L tự nguyện kết hôn tại UBND xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh, ngày 09/3/2021. Việc kết hôn của anh chị đúng theo quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do anh L không chung thủy, thường xuyên liên lạc và quan hệ tình cảm với vợ cũ, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau. Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng anh L không lên Tòa án làm việc cũng như không có ý kiến cho Tòa án. Tại phiên tòa, chị X vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Vì vậy căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị Kim X xin ly hôn với anh Nguyễn Quốc L.
Về con chung: anh chị không có con chung.
Về tài sản chung và các nghĩa vụ chung khác: Chị Hồ Thị Kim X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
[3]Về án phí: Căn cứ Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chị Hồ Thị Kim X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: yêu cầu xin ly hôn của Nguyên đơn chị Hồ Thị Kim X đối với bị đơn anh Nguyễn Quốc L có địa chỉ Thôn 5, xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Bị đơn anh Nguyễn Quốc L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, vì vậy theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.
Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử thấy rằng:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị Kim X và anh Nguyễn Quốc L tự nguyện tìm hiểu và kết hôn tại UBND xã Nghĩa Hưng, huyện Chư Păh, tỉnh Gia Lai vào ngày 09/3/2021. Việc kết hôn của anh chị đúng theo quy định pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do anh L không chung thủy, thường xuyên liên lạc và quan hệ tình cảm với vợ cũ, chị đã nhiều lần khuyên nhủ anh L nhưng anh L không nghe, vợ chồng thường xuyên cãi vã nhau, trong lúc cãi cọ anh L đã có lần đánh chị, sau nhiều lần thuyết phục anh L không được anh chị đã sống ly thân từ khoảng cuối năm 2021 đến nay. Trong quá trình thụ lý giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng anh L không lên Tòa án làm việc cũng như không có ý kiến cho Tòa án, thể hiện anh L không có thiện chí hàn gắn tình cảm để cùng chị X đoàn tụ gia đình. Tại phiên tòa, chị X vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị Kim X xin ly hôn với anh Nguyễn Quốc L.
Về con chung: anh chị không có con chung.
Về tài sản chung và các nghĩa vụ chung khác: Chị Hồ Thị Kim X không yêu cầu Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.
Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và quy định tại Điều 27 Nghị quyết về án phí, lệ phí Tòa án số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì chị Hồ Thị Kim X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Luật phí và Lệ phí; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hồ Thị Kim X.
1.1 Về hôn nhân: chị Hồ Thị Kim X được ly hôn với anh Nguyễn Quốc L;
1.2 Về con chung: anh chị không có con chung.
1.3 Về tài sản chung và các nghĩa vụ chung khác: Chị Hồ Thị Kim X không yêu cầu nên không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Buộc chị Hồ Thị Kim X phải nộp 300.000 đồng tiền án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí ly hôn sơ thẩm đã nộp trước đây theo biên lai số 0007374 ngày 30 tháng 01 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chư Păh. Chị Hồ Thị Kim X đã nộp đủ tiền án phí ly hôn sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/9/2023), các đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền làm đơn kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xem xét phúc thẩm.
Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày Tòa án niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia lai; - VKSND H.Chư Păh; - THA DS H.Chư Păh; - Đương sự; -UBND xã Nghĩa Hưng, H. Chư Păh, Gia Lai; - Lưu HS VTTA . Hội thẩm nhân dân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bảo Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa |