vanban.org

Bản án 20/2023/HNGĐ-PT — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND tỉnh Phú Thọ Tuyên án 24/11/2023 Hôn nhân và gia đình Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 24/11/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

2014; khoản 2 Điều 147, khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165 Bộ luật Tố tụng

dân sự; điểm b khoản 5 Điều 27, khoản 2 Điều 29 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Trần Thị M ly hôn với anh Phạm Hai H"
  • Tòa quyết gì? 2014; khoản 2 Điều 147, khoản 2 Điều 157, khoản 2 Điều 165 Bộ luật Tố tụng
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/HNGĐ-PT
Ngày: 24-11-2023
“V/v Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Toàn

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Tiến Dũng

Ông Đinh Việt Giang

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Ông Hoàng Thanh Phương - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 11 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 27/2023/TLPT- HNGĐ ngày 03 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh tranh chấp hôn nhân và gia đình”.

Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 44/2023/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố V T, tỉnh Phú Thọ bị kháng cáo. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 28/2023/QĐXXPT-DS ngày 06 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Trần Thị M, sinh năm 1994. ĐKHKTT: Đội X, M T, phường M N, thành phố V T, tỉnh Phú Thọ.

Chỗ ở hiện nay: Phòng Y, Chung cư sinh viên – phường M P, thành phố V T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt

Bị đơn: Anh Phạm Hai H, sinh năm 1992.

ĐKHKTT và chỗ ở: Đội X, M T, phường M N, thành phố V T, tỉnh Phú Thọ. Có mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và quá trình giải quyết tại Tòa án nguyên đơn chị Trần Thị M trình bày:

Chị và Anh Phạm Hai H có tự do tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 28/4/2017 tại trụ sở UBND phường M N, thành phố V T, tỉnh Phú Thọ trên cơ sở tự nguyện, không bị ép buộc. Trong quá trình chung sống, thời gian đầu vợ chồng chung sống hòa thuận hạnh phúc sau đó phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp về tính cách, không cùng quan điểm sống. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được chị Trần Thị M đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với Anh Phạm Hai H.

Bị đơn Anh Phạm Hai H trình bày: Anh đồng ý với trình bày của chị Trần Thị M về việc kết hôn, việc tự do tìm hiểu trong hôn nhân. Theo Anh H nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do từ ngày 01/6/2022 gia đình anh có đi du lịch biển tại Quảng Ninh cùng với bạn thân của Anh H, rạng sáng ngày 02/6/2022 Anh H phát hiện chị M đi cùng bạn thân của anh, đi đâu, làm gì anh không biết. Sau sự việc đó, Anh H đã tha thứ cho chị M về nhà để chăm sóc hai con nhưng được một thời gian thì chị M đòi ra ngoài làm ăn. Do con còn nhỏ nên Anh H đã khuyên bảo chị M nhiều lần để con lớn rồi hãy đi làm nhưng chị M vẫn tự ý bỏ ra ngoài, bỏ lại con và gia đình từ tháng 8/2022 cho đến nay. Hiện nay Anh H xác định không còn tình cảm với chị M, chị M xin ly hôn Anh H đồng ý ly hôn.

Về con chung: Chị Trần Thị M và Anh Phạm Hai H thống nhất xác nhận vợ chồng có 02 con chung là cháu Phạm Minh H, sinh ngày 19/9/2017 và cháu Phạm Kiều Bảo N, sinh ngày 22/9/2019. Ly hôn, chị Trần Thị M đề nghị: Giao cháu Phạm Kiều Bảo N cho chị M trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Giao cháu Phạm Minh H cho Anh H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Anh Phạm Hai H đề nghị được nuôi cả hai cháu và không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh vì hai cháu còn quá nhỏ, đang sống ổn định cùng với anh và ông bà nội. Cháu N lại hay ốm đau, mỗi lần ốm đều phải nhập viện, Anh H sống cùng bố mẹ đẻ là ông Phạm Văn Q và bà Triệu Thị P nên sẽ có người hỗ trợ chăm sóc, nuôi dưỡng và đưa đón các cháu đi học. Thu nhập của anh khoảng 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) đến 30.000.000đ (ba mươi triệu đồng) / tháng nên anh có đủ điều kiện nuôi hai cháu. Chị M hiện đang đi thuê nhà, thu nhập không ổn định sẽ không có thời gian chăm sóc cho con. Hai cháu còn nhỏ nên anh không muốn tách các cháu ra. Nếu chị M muốn nuôi cả hai cháu anh cũng đồng ý với điều kiện chị M phải để hai cháu sống ở V T để anh tiện đi lại thăm nom các cháu còn chị M đưa hai cháu về quê ngoại thì anh không đồng ý. Nếu được nuôi cả hai con chung Anh H không yêu cầu chị M phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng Anh H không yêu cầu chị M cấp dưỡng nuôi con cùng anh. Bố mẹ đẻ Anh H là ông Phạm Văn Q và bà Triệu Thị P cũng cam kết tạo điều kiện về chỗ ở và hỗ trợ Anh H trong việc chăm sóc các cháu.

Chị M trình bày: Chị có đủ điều kiện để nuôi con vì hiện nay chị đã mở cửa hàng làm đẹp riêng, thu nhập khoảng 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng)/ tháng, ngoài ra chị còn kinh doanh mỹ phẩm online với thu nhập 8.000.000đ (tám triệu đồng) /tháng. Hiện nay, chị M đã thuê 01 căn hộ ở khu chung cư sinh viên phường M P thành phố V T để làm nơi sinh hoạt ăn ở, chị M khẳng định chị có đủ điều kiện về chỗ ở, về thu nhập để chăm sóc tốt cho cháu N nên chị không đồng ý giao cả 02 con chung cho Anh H nuôi dưỡng. Chị M đề nghị được nuôi cháu Phạm Kiều Bảo N.

Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp gia đình: Chị Trần Thị M và Anh Phạm Hai H thống nhất không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 44/2023/HNGĐ-ST ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố V T, tỉnh Phú Thọ đã Quyết định:

Áp dụng Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1.Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị M và Anh Phạm Hai H.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Kiều Bảo N, sinh ngày 22/9/2019 cho chị Trần Thị M trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Giao cháu Phạm Minh H, sinh ngày 19/9/2017 cho Anh Phạm Hai H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Chị Trần Thị M và Anh Phạm Hai H không phải cấp dưỡng nuôi con chung cho nhau.

Chị Trần Thị M và Anh Phạm Hai H có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị M tự nguyện chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị M đã nộp 300.000đ(Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009569 ngày 17/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phốV T.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Ngày 17/7/2023 Anh Phạm Hai H có đơn kháng cáo với nội dung: Đề nghị cho anh trực tiếp nuôi dưỡng cả 02 con chung là Phạm Minh H và Phạm Kiều Bảo N.

Quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, chị Trần Thị M cung cấp: 01 đơn đề nghị ngày 02/8/2023 với nội dung giao cháu Phạm Minh H và Phạm Kiều Bảo N cho Anh H trực tiếp nuôi dưỡng, chị không phải cấp dưỡng nuôi con.

T¹i phiên tòa phúc thẩm Anh Phạm Hai H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

Tại phiên tòa, Anh Phạm Hai H và chị Trần Thị M thống nhất thỏa thuận:

Giao cho Anh Phạm Hai H trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu Phạm Kiều Bảo N, sinh ngày 22/9/2019 và cháu Phạm Minh H, sinh ngày 19/9/2017 cho Anh Phạm Hai H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Chị Trần Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Thọ: Thẩm phán, thư ký thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật tố tụng và các văn bản pháp luật, kể từ khi thụ lý giải quyết vụ việc để xét xử phúc thẩm cho đến trước thời điểm nghị án.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ Điều 300 Bộ luật tố tụng dân sự, sửa bản án dân sự sơ thẩm. Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về con chung. Gia 02 con chung cho Anh Phạm Hai H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Chị M không phải cấp dưỡng nuôi con chung. Chị M có quyền thăm nom các con chung không ai được cản trở.

Về án phí: Anh H phải chịu án phí phúc thẩm.

(Chi tiết tại bài phát biểu của Kiểm sát viên lưu hồ sơ vụ án).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên; Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Kháng cáo của Anh Phạm Hai H là bị đơn làm trong hạn luật định, hợp lệ nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm. Nội dung kháng cáo trong phạm vi xét xử của bản án sơ thẩm. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét nội dung này theo quy định tại Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung kháng cáo: Tại phiên tòa phúc thẩm Anh H chị M thống nhất thỏa thuận với nhau như sau:

Giao cho Anh Phạm Hai H trực tiếp nuôi dưỡng 02 cháu Phạm Minh H, sinh ngày 19/9/2017 và cháu Phạm Kiều Bảo N, sinh ngày 22/9/2019 cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Chị Trần Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy sự thỏa thuận của các đương sự là tự nguyện, phù hợp với pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận, do vậy cần sửa bản án sơ thẩm và công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về con chung.

Về án phí phúc thẩm: Anh H kháng cáo nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định tại khoản 5 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Quan điểm của Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp cần chấp nhận.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

V× c¸c lÏ trªn,

QUYÕT §ÞNH:

Căn cứ Điều 300, khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Chấp nhận kháng cáo của Anh Phạm Hai H.

Sửa một phần Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 44/2023/HNGĐ-ST

ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố V T, tỉnh Phú Thọ về phần giao nuôi con theo như thỏa thuận của các bên đương sự.

Áp dụng Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Trần Thị M và Anh Phạm Hai H.

2. Về con chung: Giao cháu Phạm Minh H, sinh ngày 19/9/2017 và cháu Phạm Kiều Bảo N, sinh ngày 22/9/2019 cho Anh Phạm Hai H trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục cho đến khi các cháu thành niên và có khả năng lao động. Chị Trần Thị M không phải cấp dưỡng nuôi con (do Anh H không yêu cầu). Chị Trần Thị M có quyền thăm nom con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung, nợ chung và công sức đóng góp: Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trần Thị M tự nguyện chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm. Xác nhận chị M đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí sơ thẩm tại biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009569 ngày 17/10/2022 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố V T.

5. Về án phí phúc thẩm: Anh Phạm Hai H phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm. Xác nhận Anh H đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí phúc thẩm theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2020/0000485 ngày 27/7/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố V T, tỉnh Phú Thọ.

“Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ thời điểm hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ