vanban.org

Bản án 20/2023/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

Buộc vợ chồng ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C phải trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam số tiền nợ gốc và tiền lãi của Hợp đồng tín dụng số 2107LAV201903698 ngày 19 tháng 12 năm 2019 với tổng số tiền là 623.773.596 đồng (Sáu trăm hai mươi ba triệu bảy trăm bẩy mươi ba nghìn l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Vũ Ngọc T, Ngô Thị C"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
  • Căn cứ chính? Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Bộ luật Dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2023/DS-ST
Ngày 27-9-2023
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quyết

Bà Nguyễn Thị Tâm

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Ly Ly - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên tòa: Ông Đào Duy Tùng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2023 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2023/TLST-DS ngày 19 tháng 6 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 26/2023/QĐXXST-DS ngày 22 tháng 8 năm 2023; Quyết định hoãn phiên tòa số 26/2023/QĐST-DS ngày 11 tháng 9 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam; địa chỉ: Số 2, Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Toàn Vượng - Chức vụ: Tổng Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Tuấn Hưng; chức vụ: Trưởng phòng kế hoạch kinh doanh, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (theo giấy ủy quyền ngày 19 tháng 6 năm 2023); ông Hưng; có mặt.

- Bị đơn: Vợ chồng ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C; nơi cư trú: Thôn NA, xã TC, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng; ông T, bà C; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn là Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam do người đại diện theo ủy quyền trình bày:

Ngày 19-12-2019, Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (gọi tắt là Agribank) Chi nhánh Vĩnh Bảo Đông Hải Phòng có ký hợp đồng tín dụng số 2107LAV201903698 cho vợ chồng ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C ở Thôn NA, xã TC, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng vay số tiền là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng). Mục đích vay: Sửa chữa nhà ở và mua sắm đồ dùng nội thất gia đình. Thời hạn vay: 05 năm kể từ ngày 19-12-2019 đến ngày 19-12-2024. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 12%/năm. Lãi suất cho vay được điều chỉnh tăng, giảm theo quy định của Agribank chi nhánh Đông Hải Phòng công bố theo từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Để đảm bảo nghĩa vụ hoàn trả vốn vay và các chi phí liên quan phát sinh theo hợp đồng nói trên, bên vay đã thế chấp tài sản theo hợp đồng thế chấp số TC111219/HĐTC/2017/HĐTC ngày 11-12-2019 giữa vợ chồng ông Vũ Ngọc T bà Ngô Thị C (Bên thế chấp) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Bên nhận thế chấp). Cụ thể tài sản thế chấp: Toàn bộ quyền sử dụng 192m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 67b2, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn NA, xã TC, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 303350 số vào sổ cấp GCN: CH 000810 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng cấp ngày 09-12-2019 cho bà Ngô Thị C, chồng là ông Vũ Ngọc T. Hợp đồng thế chấp này đã được Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Khuê chứng thực và đăng ký giao dịch đảm bảo tại Chi nhánh Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng ngày 11-12-2019. Đến nay, vợ chồng ông T, bà C mới thanh toán trả Ngân hàng 170.000.000 đồng tiền gốc và 74.515.029 đồng tiền lãi. Ngân hàng đã chuyển số tiền vay sang nợ quá hạn từ ngày 01-01-2021. Tổng dư nợ tín dụng của vợ chồng ông T, bà C theo hợp đồng tín dụng tính đến ngày 27-9-2023 bao gồm cả dư nợ gốc và dư nợ lãi, cụ thể như sau: Tiền gốc: 430.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là: 147.389.263 đồng, lãi quá hạn là: 46.384.333 đồng; tổng cộng: 623.773.596 đồng, vợ chồng ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C chưa trả cho Ngân hàng.

Kể từ khi bên vay vi phạm nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng liên tục có thông báo và công văn đôn đốc nợ. Mặt khác, Ngân hàng cũng đã có biên bản làm việc cũng như thông báo về việc quản lý tài sản thế chấp, tuy nhiên vợ chồng ông T, bà C vẫn không hợp tác trả nợ. Việc vi phạm nghĩa vụ trả nợ theo cam kết tại hợp đồng tín dụng của bên vay đã ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Nay Ngân hàng yêu cầu Tòa án giải quyết buộc vợ chồng ông T, bà C phải thanh toán trả số tiền gốc là 430.000.000 đồng; lãi trong hạn:147.389.263 đồng; lãi quá hạn: 46.384.333 đồng; tổng cộng: 623.773.596 đồng và lãi phát sinh từ ngày 28-9-2023 đến khi thanh toán hết toàn bộ khoản nợ.

Trong trường hợp vợ chồng ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng đề nghị Tòa án tuyên phát mại tài sản đã thế chấp theo hợp đồng thế chấp tài sản số TC111219/HĐTC ký ngày 11-12-2019 giữa ông Vũ Ngọc T, bà Ngô Thị C (Bên thế chấp) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Bên nhận thế chấp). Tài sản thế chấp là Toàn bộ quyền sử dụng 192m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 67b2, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn NA, xã TC, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 303350 số vào sổ cấp GCN: CH 000810 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng cấp ngày 09-12-2019 cho bà Ngô Thị C, chồng là ông Vũ Ngọc T. Trường hợp số tiền phát mại từ tài sản đảm bảo vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì vợ chồng ông T, bà C phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết khoản vay.

Tại bản tự khai, các biên bản khác và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn vợ chồng ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C thống nhất trình bày: Vào ngày 19-12-2019, vợ chồng ông bà có vay của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Chi nhánh Vĩnh Bảo Đông Hải Phòng số tiền là 600.000.0000 đồng (Sáu trăm triệu đồng), theo hợp đồng tín dụng số 2107LAV201903698, loại tiền vay: VND; mục đích sử dụng tiền vay: Sửa chữa nhà ở và mua sắm đồ dùng nội thất gia đình; thời hạn vay Thời hạn vay: 05 năm kể từ ngày 19-12-2019 đến ngày 19-12-2024. Lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm giải ngân là 12%/năm. Lãi suất cho vay được điều chỉnh tăng, giảm theo quy định của Agribank chi nhánh Đông Hải Phòng công bố theo từng thời kỳ. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn tại thời điểm chuyển nợ quá hạn. Để đảm bảo nghĩa vụ hoàn trả vốn vay và các chi phí liên quan phát sinh theo hợp đồng nói trên, ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C đã thế chấp toàn bộ quyền sử dụng 192m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 67b2, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn NA, xã TC, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 303350 số vào sổ cấp GCN: CH 000810 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng cấp ngày 09-12-2019 cho bà Ngô Thị C, chồng là ông Vũ Ngọc T theo Hợp đồng thế chấp tài sản số TC111219/HĐTC ký ngày 11-12-2019. Do làm ăn không thuận lợi nên vợ chồng ông, bà chưa có điều kiện để trả nợ Ngân hàng số tiền gốc và lãi như cam kết. Nay Ngân hàng khởi kiện yêu cầu vợ chồng ông bà thanh toán trả số tiền gốc và lãi, vợ chồng ông bà đồng ý trả nợ và xin trả dần mỗi tháng 5.000.000 đồng. Về yêu cầu xử lý tài sản thế chấp: Vợ chồng ông bà đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Về kết quả xem xét thẩm định tại chỗ: Tài sản thế chấp là diện tích 192m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 67b2, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn NA, xã TC, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Tài sản trên đất gồm có: 01 nhà 01 tầng tường xây gạch chỉ nền lát gạch men; 01 lán tôn sau nhà chính; 01 bể nước; 01 nhà vệ sinh; 01 nhà bếp; 01 nhà tắm. Đất ở đã được Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CH 000810 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng cấp ngày 09-12-2019 cho bà Ngô Thị C, chồng là ông Vũ Ngọc T.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng đồng thời phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau:

Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về: Thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp, việc thu thập chứng cứ, việc xét xử vắng mặt bị đơn; nguyên đơn chấp hành yêu cầu của Tòa án về cung cấp chứng cứ, tham gia các hoạt động tố tụng khác theo đúng quy định của pháp luật, bị đơn không tham gia đầy đủ các hoạt động tố tụng, tại phiên tòa bị đơn vắng mặt không có lý do, tuy nhiên vi phạm của bị đơn không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án.

Về việc giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng; các Điều 116, 117, 280, 292, 293, 295, 298, 299, 317, 318, 320, 321, 322, 323, 351, 357, 398, 463, 466, 468, 500, 502, 688 Bộ luật Dân sự; Điều 167, Điều 188 Luật Đất đai; Điều 147, Điều 157, Điều 165 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc vợ chồng ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C phải trả nợ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam số tiền vay gốc và lãi tính đến ngày 27-9-2023 là 623.773.596 đồng và lãi phát sinh tính từ ngày 28-9-2023 theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 2107LAV201903698 ngày 19-12-2019.

Trường hợp vợ chồng ông T, bà C không trả được nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam thì Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mại tài sản thế chấp là toàn bộ quyền sử dụng 192m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 67b2, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn Nam NA, xã TC, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 303350 số vào sổ cấp GCN: CH 000810 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng cấp ngày 09-12-2019 cho bà Ngô Thị C, chồng là ông Vũ Ngọc T để thu hồi nợ cho Ngân hàng. Trường hợp số tiền phát mại từ tài sản đảm bảo vẫn không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì vợ chồng ông T, bà C phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho đến khi trả hết khoản vay.

Về án phí: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, vợ chồng ông T, bà C phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Hoàn trả lại Ngân hàng số tiền tạm ứng án phí đã nộp. Về chi phí tố tụng: Chấp nhận sự tự nguyện của Ngân hàng về việc nhận chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Vợ chồng ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại Thôn NA, xã TC, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng. Theo hợp đồng tín dụng vợ chồng ông T, bà C vay vốn để sửa chữa nhà, mua sắm đồ dùng. Việc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam khởi kiện đối với vợ chồng ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C trong thời thời hạn pháp luật quy định. Căn cứ khoản 3 Điều 26, Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết vụ án dân sự của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Tại phiên tòa bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc không do trở ngại khách quan. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C.

- Về nội dung vụ án:

Xét hợp đồng tín dụng số 2107LAV201903698 ngày 19 tháng 12 năm 2019. Vợ chồng ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C là người đã trực tiếp ký hợp đồng tín dụng nêu trên với Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam, Chi nhánh Vĩnh Bảo Đông Hải Phòng để vay số tiền là 600.000.000 đồng (Sáu trăm triệu đồng); loại tiền vay: VND; mục đích sử dụng tiền vay để sửa chữa nhà ở và mua sắm đồ dùng nội thất gia đình; thời hạn vay: 05 năm kể từ ngày 19-12-2019 đến ngày 19-12-2024. Lãi suất tại tại thời điểm vay là: 12%/năm. Về hình thức và nội dung của hợp đồng tín dụng đã ký kết giữa Ngân hàng và vợ chồng ông T, bà C phù hợp với quy định tại các Điều 280, 351, 357, 463, 466, 468 Bộ luật Dân sự; khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng. Do vậy hợp đồng tín dụng số 2107LAV201903698 ngày 19 tháng 12 năm 2019 có hiệu lực pháp luật, các bên phải thực hiện theo hợp đồng. Đến nay, vợ chồng ông T, bà C mới thanh toán trả Ngân hàng 170.000.000 đồng tiền gốc; 74.575.029 đồng tiền lãi. Từ ngày 01-01-2021, bên vay đã phát sinh nợ quá hạn khoản vay gốc và không thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Như vậy, vợ chồng ông T, bà C đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ gốc và lãi theo hợp đồng. Do đó, Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ của hợp đồng tín dụng sang nợ quá hạn và khởi kiện yêu cầu xử lý nợ là phù hợp với sự thỏa thuận của các bên tại hợp đồng tín dụng và khoản 2 Điều 95 của Luật các Tổ chức tín dụng.

Về yêu cầu trả nợ gốc và lãi của nguyên đơn: Để chứng minh cho yêu cầu của mình, nguyên đơn cung cấp bảng tính lãi trong hạn, lãi quá hạn tại hợp đồng tín dụng. Nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả tiền lãi phù hợp với chính sách lãi suất của Ngân hàng trong từng thời kỳ, quy định lãi suất cho vay trong hệ thống của Ngân hàng. Lãi suất quá hạn được áp dụng bằng 150% mức lãi suất trong hạn. Dư nợ gốc tính lãi phù hợp với quy định của pháp luật. Xét thỏa thuận về mức lãi suất vay, lãi suất quá hạn của các bên là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 Luật các Tổ chức tín dụng. Từ những phân tích trên đây, Hội đồng xét xử thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn phải trả số tiền vay gốc và lãi theo hợp đồng tín dụng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại các Điều 466, 468 Bộ luật Dân sự; Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng (đã được sửa đổi bổ sung năm 2017). Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam. Buộc vợ chồng ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C phải trả cho Ngân hàng số tiền vay gốc còn lại theo hợp đồng tín dụng là: 430.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 27-9-2023 gồm lãi trong hạn là: 147.389.263 đồng, lãi quá hạn là: 46.384.333 đồng, tổng cộng: 623.773.596 đồng và lãi phát sinh từ ngày 28-9-2023 cho đến khi trả xong các khoản nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất quy định trong hợp đồng tín dụng.

Xét hợp đồng thế chấp tài sản: Hợp đồng thế chấp tài sản số TC111219/HĐTC ký ngày 11-12-2019 được dùng bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng số 2107LAV201903698 ngày 19 tháng 12 năm 2019 giữa bên thế chấp là ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị Trang, bên nhận thế chấp là Ngân hàng. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng 192m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 67b2, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn NA, xã TC, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 303350 số vào sổ cấp GCN: CH 000810 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng cấp ngày 09-12-2019 cho bà Ngô Thị C, chồng là ông Vũ Ngọc T. Hợp đồng thế chấp này đã được Văn phòng công chứng Nguyễn Thị Khuê chứng thực và đăng ký thế chấp giao dịch đảm bảo tại Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh huyện Vĩnh Bảo ngày 11-12-2019 theo đúng quy định pháp luật. Nhận thấy, khi tham gia ký hợp đồng thế chấp, vợ chồng ông T, bà C có đủ năng lực hành vi dân sự, hoàn toàn tự nguyện, mục đích của hợp đồng không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội, phù hợp với quy định tại các Điều 280, 292, 293, 295, 298, 299 Bộ luật Dân sự; Điều 167, Điều 188 Luật Đất đai nên hợp đồng thế chấp số TC111219/HĐTC ký ngày 11-12-2019 là hợp pháp, ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C phải thực hiện các thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp tài sản này. Nếu vợ chồng ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng theo hợp đồng tín dụng đã ký kết thì chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng, phát mại toàn bộ công trình xây dựng xây dựng trên đất để thu hồi nợ là đúng với sự thỏa thuận, phù hợp với Điều 298, 319, 398, 500, 502 Bộ luật Dân sự và Điều 167, Điều 188 Luật Đất đai năm 2013 và các Điều 21, 56, 58, 68, 71 Nghị định 163/2006/NĐ-CP ngày 29-12-2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm.

Về án phí: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn trả nợ được chấp nhận nên nguyên đơn không phải chịu án phí mà bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Về chi phí tố tụng: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam nhận chịu toàn bộ chi phí xem xét thẩm định tại chỗ. Ngân hàng đã nộp đủ và không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 116, 117, 280, 292, 293, 295, 298, 299, 317, 318, 320, 321, 322, 323, 351, 357, 398, 463, 466, 468, 500, 502 Bộ luật Dân sự;

Căn cứ khoản 16 Điều 4, khoản 2 Điều 91 và Điều 95 Luật các Tổ chức tín dụng đã được sửa đổi bổ sung năm 2017;

Căn cứ Điều 167, Điều 188 Luật Đất đai;

Căn cứ khoản 1 Điều 26; khoản 1 Điều 35; Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 165, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 288, Điều 266, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 6, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam

Buộc vợ chồng ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C phải trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam số tiền nợ gốc và tiền lãi của Hợp đồng tín dụng số 2107LAV201903698 ngày 19 tháng 12 năm 2019 với tổng số tiền là 623.773.596 đồng (Sáu trăm hai mươi ba triệu bảy trăm bẩy mươi ba nghìn lăm trăm chín mươi sáu đồng). Cụ thể: Tiền gốc: 430.000.000 đồng, tiền lãi tính đến ngày 27-9-2023 là 193.773.596 đồng, trong đó: Lãi trong hạn là: 147.389.263 đồng; lãi quá hạn là: 46.384.333 đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm (28-9-2023), vợ chồng ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng số 2107LAV201903698 ngày 19 tháng 12 năm 2019 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

2. Trường hợp ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C không trả được nợ cho Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam thì Ngân hàng có quyền yêu cầu Cơ quan Thi hành án Dân sự có thẩm quyền phát mại toàn bộ tài sản thế chấp để thực hiện nghĩa vụ bảo đảm đã cam kết theo hợp đồng thế chấp tài sản số TC111219/HĐTC ký ngày 11-12-2019 đã ký giữa ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C - bên thế chấp và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam - bên nhận thế chấp. Tài sản thế chấp bao gồm quyền sử dụng 192m2 đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 67b2, tờ bản đồ số 02, địa chỉ: Thôn NA, xã TC, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CT 303350 số vào sổ cấp GCN: CH 000810 do Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng cấp ngày 09-12-2019 cho bà Ngô Thị C, chồng là ông Vũ Ngọc T.

Sau khi phát mại tài sản bảo đảm, nếu số tiền thu được dùng để trả nợ cho Ngân hàng còn thừa thì trả lại cho ông Vũ Ngọc T bà Ngô Thị C; nếu thiếu thì vợ chồng ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C phải tiếp tục có nghĩa vụ thanh toán phần còn thiếu cho Ngân hàng.

3. Về án phí:

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho Ngân hàng 13.895.000 đồng (Mười ba triệu tám trăm chín mươi lăm nghìn), tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vĩnh Bảo theo biên lai thu số 0006640 ngày 19 tháng 6 năm 2023.

Vợ chồng ông Vũ Ngọc T và bà Ngô Thị C phải chịu 28.950.943 đồng (Hai mươi tám triệu chín trăm lăm nghìn chín trăm bốn mươi ba đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

4. Về chi phí tố tụng: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam nhận chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, Ngân hàng đã nộp đủ chi phí nên không xem xét giải quyết.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ