vanban.org

Bản án 20/2022/HSST — Hình sự

TAND TX. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 28/02/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Chung Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Chung Minh T 01(Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/8/2021. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chung Văn T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chung Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LONG KHÁNH
TỈNH ĐỒNG NAI
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2022/HS-ST
Ngày: 28-02-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Lê Thanh Tùng

2/ Bà Nguyễn Thị Mỹ Hương

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Trực là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện VKSND thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Cường- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 02năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2022/HS-ST ngày 21 tháng 01 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 22/2022/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 2 năm 2022, đối với bị cáo:

Chung Minh T (Tên gọi khác: không), sinh năm 1988, tại Đồng Nai; nơi cư trú: kp 5, phường XB, thành phố LK, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; con ông Chung Văn T, sinh năm 1962 (còn sống) và bà Lê Thị Xuân M, sinh năm 1952 (đã chết); có vợ Nguyễn Thị Đài L, sinh năm 1987, có 02 người con, lớn sinh năm 2015, nhỏ sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo Chung Minh T bị tạm giam từ ngày 28/8/2021 đến nay tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Long Khánh, có mặt.

- Người làm chứng:

Anh Phạm Anh T, sinh năm 2000. Địa chỉ: Tổ 5, ấp BT, xã BT, thành phố LK, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chung Minh T là đối tượng sử dụng ma túy, loại và hình thức sử dụng là hút ma túy đá (Methamphetamine).

Vào khoảng 12 giờ ngày 28/8/2021, T đi bộ tới khu vực ngã tư Bàu Trâm, thuộc ấp Bàu Trâm, xã Bàu Trâm, thành phố Long Khánh hỏi và mua của 01 người tên là “Bé” (hiện chưa rõ lai lịch) 01 bịch ma túy đá với giá 900.000 đồng. Sau khi mua được ma túy, T cầm bịch ma túy trên tay đứng ở lề đường thì bị Công an xã Bàu Trâm tuần tra và phát hiện, bắt quả tang. Vật chứng thu giữ trên tay T 01 bịch ma tuy đá nên đã tiến hành niêm phong tang vật và đưa Tuấn về trụ sở Công an để làm việc.

Tại Bản kết luận giám định số 1774/KLGĐ-PC09 ngày 03/9/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng được niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng 1,1681 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra, bị can đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình.

Tại bản Cáo trạng số: 101/CT-VKS-LK ngày 19/01/2022của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, truy tố bị cáo Chung Minh T về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa hôm nay,

Bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng đã truy tố.

Người làm chứng anh Phạm Anh Th vắng mặt nên không có lời trình bày, Hội đồng xét xử công bố lời khai của họ tại cơ quan điều tra.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh giữ quyền công tố tại phiên toà, giữ nguyên cáo trạng truy tố bị cáo Chung Minh T về tội danh nêu trên và áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật hình sự và đề nghị xử phạt bị cáo Chung Minh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.

Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1774/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thấy được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo rất ân hận, kính mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, những người tham gia tố tụng khác khẳng định khai báo tự nguyện, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Chung Minh T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng số: 101/CT-VKS-LK ngày 19/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai người làm chứng và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Vào lúc 12 giờ 30 phút ngày 28/8/2021, tại ngã ba Bàu Trâm thuộc ấp Bàu Trâm, xã Bàu Trâm, thành phố Long Khánh, Công an xã Bàu Trâm phát hiện và bắt quả tang Chung Minh T đang tàng trữ 1,1681 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng. Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tốcấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chính sách độc quyền về quản lý ma túy của nhà nước. Ma túy là chất độc hại, gây nghiện, người sử dụng sẽ ảnh hưởng đến thể chất và tinh thần, ma túy còn là nguyên nhân của các tội phạm khác. Bị cáo nhận thức rõ hiểm họa của ma túy nhưng vẫn mua về để sử dụng. Hành vi của bị cáo còn làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời có tác dụng chung trong việc đấu tranh và phòng ngừa tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân và hình phạt đối với bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về việc làm sai trái của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự, nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Về xử lý vật chứng:

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1774/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Chung Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Chung Minh T 01(Một) năm 02 (Hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 28/8/2021.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì số 1774/KLGĐ-PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đồng Nai (vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/01/2022).

3. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4.Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ