- Tranh chấp gì? án hình sự — "Quách Văn D và Đp - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Quách Văn D, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH SƠN LA Bản án số: 20/2022/HSST. Ngày: 23 – 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VÂN HỒ - TỈNH SƠN LA
-
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Hồng Nghiêm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Hải Đăng và ông Trịnh Lƣơng Hữa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lục Thu Hồng – Thƣ ký Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La.
- Đại D Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ - tỉnh Sơn La tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hƣơng Mạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2022/TLST- ST ngày 28 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 14/2022/QĐXXST- HS ngày 11 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:
1. Quách Văn D, tên gọi khác: Không, sinh năm 1988, tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Nơi ĐKHKTT: X, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mƣờng; Trình độ văn hoá: 5/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Quách Văn Th (Đã chết) con bà Bùi Thị Q. bị cáo có vợ là Bùi Thị M và 01con sinh năm 2009;
Tiền án; tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày ngày 14/8/2014 của Tòa án nhân dân huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La 30 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong bản án ngày 07/5/2016.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 10 tháng 8 năm 2022 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Bùi Trung H, tên gọi khác: Không, sinh năm 1991, tại huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình. Nơi ĐKHKTT: Xóm V, xã Y, huyện L, tỉnh Hòa Bình; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Mƣờng; Trình độ văn hoá: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Bùi Văn N (Đã chết), con bà Hoàng Thị L; bị cáo chƣa có có vợ và con;
Tiền án: Tại bản số 24/2021/HS-ST ngày 12/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Bùi Trung H chấp hành xong bản án ngày 24/02/2022; tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam kể từ ngày 10 tháng 8 năm 2022 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 10/8/2022 tổ công tác Công an huyện Vân Hồ ra tín hiệu dừng xe máy do Quách Văn D điều khiển trở Bùi Văn H, để kiểm tra. Lúc này, H nhảy xuống xe máy rồi ném một vật ra phía bên phải đƣờng Quốc lộ 6. Tổ công tác đã phát hiện và yêu cầu H tự giác nhặt lên giao nộp. H đã tự giác đi đến vị trí vừa ném, nhặt 02 gói nilon rồi lên giao nộp cho tổ công tác trong đó: Gói thứ nhất đƣợc gói bên ngoài bằng 05 lớp nilon màu hồng bên trong đựng chất bột màu trắng; Gói thứ hai đƣợc gói bên ngoài bằng 03 lớp nilon màu hồng bên trong đựng chất bột màu trắng. D và H khai nhận 02 gói đựng chất bột màu trắng nêu trên là 02 gói Heroine của H và D mua về để sử dụng. Ngoài ra tạm giữ của Quách Văn D 01 chiếc xe máy BKS 28N1 – 38120; 01 điện thoại di đồng nhãn hiệu ITEL màu đen bên trong có chứa sim số: 0965726071; 01 mũ bảo hiểm. Tạm giữ của Bùi Trung H: 200.000 đồng; 01 mũ bảo hiểm.
Ngày 10/8/2022, tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Vân Hồ tiến hành cân tịnh xác định khối lƣợng số chất bột màu trắng thu giữ của Quách Văn D và Bùi Trung H đƣợc nhƣ sau:
- Số chất bột màu trắng trong gói nilon bên ngoài đƣợc gói 05 lớp nilon màu hồng đƣợc tổng khối lƣợng 3,12 gam; lấy 0,21 gam làm mẫu giám định ký hiệu HD; Còn lại 2,91 gam ký hiệu HD1 lƣu kho vật chứng.
- Số chất bột màu trắng trong gói nilon bên ngoài đƣợc gói 03 lớp nilon màu hồng đƣợc tổng khối lƣợng 3,60 gam; lấy 0,49 gam làm mẫu giám định ký hiệu HD2; Còn lại 3,11 gam ký hiệu HD 3 lƣu kho vật chứng.
Mẫu giám định ký hiệu HD, HD2 đƣợc bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Sơn La giám định chất ma túy, loại ma túy.
Kết luận giám định số: 1359 ngày 12/8/2022 của phòng KTHS Công an tỉnh Sơn La đã kết luận: “Các mẫu gửi giám định ký hiệu HD, HD2 đều là ma túy; loại Heroine; khối lượng của mẫu gửi giám định là HD = 0,21 gam, HD2 = 0,49 gam.Tổng khối lượng chất ma tuý thu giữ là 6,72 gam; loại Heroine. Hoàn lại đối tượng giá m đi ̣nh: Không”.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa Quách Văn D và Bùi Trung H khai nhận:
Khoảng 14 giờ ngày 09/8/2022, Quách Văn D đến nhà Bùi Trung H, sinh năm: 1991, trú tại: Xóm Vành, xã Yên Phú, huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình chơi. D rủ H góp tiền để đi đến bản Co Tang, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La tìm mua ma túy sử dụng. H đồng ý. Cả hai thống nhất H góp 1.200.0000 đồng, D góp 500.000 đồng (tổng cộng là 1.700.000 đồng), trong đó sử dụng 1.500.000 đồng để mua Heroine, 200.000 đồng làm chi phí đi đƣờng. D hẹn H khoảng 04 giờ ngày 10/8/2022, D đến đón H cùng đi mua ma túy, rồi D đi về nhà. Đến khoảng 04 giờ ngày 10/8/2022, D điều khiển xe máy BKS: 28N1-38120 đến nhà đón H. Sau đó D điều khiển xe máy chở H đi đến bản Co Tang, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ. Đến khoảng 07 giờ cùng ngày, cả hai đi đến khu vực gần cổng trƣờng cấp 1 thuộc địa phận bản Co Tang, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ thì D dừng xe. D gọi điện thoại di động đến số 0396.240.396 cho một đối tƣợng nam giới, ngƣời dân tộc Mông, tự giới thiệu tên là Chứ nhà tại bản Co Tang, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ để hỏi mua 1.500.000 đồng tiền Heroine. Chứ đồng ý. Khoảng 10 phút sau, Chứ gọi điện di động cho D bảo D đi vào trong bản khoảng 100 mét, Chứ đang đợi ở dọc đƣờng. D đồng ý, nhận 1.000.000 đồng của H và bảo H đứng đợi. Sau đó D một mình điều khiển xe máy đi vào trong bản Co Tang, xã Lóng Luông. Khi D đi đƣợc khoảng 100 mét thì gặp Chứ đang đứng tại đƣờng dân sinh. D đƣa cho Chứ 1.500.000 đồng. Chứ nhận tiền rồi đƣa cho D một túi nilon màu hồng bên trong đựng Heroine. Sau đó D cầm gói Heroine đi ra vị trí H đang đợi. D và H chia gói ma túy vừa mua đƣợc thành 02 gói. H cầm 02 gói ma túy trong lòng bàn tay trái, rồi D điều khiển xe máy chở H đi về. Đến 09 giờ 30 phút cùng ngày, D điều khiển xe máy chở H đi trên quốc lộ 6 thuộc địa phận bản Co Lóng, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La thì bị tổ công tác Công an huyện Vân Hồ ra tín hiệu dừng xe, để kiểm tra, bắt quả tang.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ: Bị cáo Quách Văn D khai mua của một ngƣời đàn ông dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi, tự giới thiệu tên là Chứ, trú tại bản Co Tang, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; Chứ sử dụng số điện thoại 0396.240.396. Quá trình điều tra xác định chủ thuê bao 0396.240.396 là chị Vũ Thị Phận, sinh ngày 11/02/1987, trú tại: thôn Nghi Dƣơng, xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Xác định tại bản Co Tang, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ có 04 ngƣời tên là Chứ trong đó đã thu thập đƣợc ảnh của 03 ngƣời tên Chứ, còn lại 01 ngƣời là Tráng A Chứ, sinh năm: 1973 không thu thập đƣợc bản ảnh. Cơ quan điều tra đã cho Quách Văn D nhận dạng qua ảnh với 03 ngƣời tên Chứ và nhận dạng chị Vũ Thị Phận. Kết quả D khẳng định 04 ngƣời đƣợc nhận dạng đều không phải đối tƣợng bán ma túy cho D. Đối với Tráng A Chứ không có mặt tại nơi cƣ trú, không chấp hành giấy triệu tập của Cơ quan điều tra. Chính quyền địa phƣơng không biết Tráng A Chứ đi đâu, làm gì. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm Tráng A Chứ và đã tách ra để điều tra, xử lý sau
Đối với chiếc xe máy BKS 28N1 – 38120 thu giữ của Quách Văn D: Quá trình điều tra bị cáo Quách Văn D khai nhận bị cáo và vợ là chị Bùi Thị Minh, sống ly thân từ năm 2019, năm 2020 bị cáo đi làm thuê lấy tiền mua chiếc xe nói trên, do vậy chiếc xe là tài sản riêng của bị cáo không liên quan đến chị Bùi Thị Minh (Vợ bị cáo). Tại lời khai có trong hồ sơ vụ án chị Bùi Thị Minh xác nhận chị Minh và bị cáo D sống ly thân từ năm 2019, năm 2020 bị cáo D đi làm thuê lấy tiền mua xe, chiếc xe máy là tài sản riêng của Quách Văn D không liên quan đến chị Bùi Thị Minh.
Tại bản Cáo trạng số 123/CT-VKS ngày 28/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, truy tố Quách Văn D và Bùi Trung H về tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm g khoản 2 Điều 249 của BLHS.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Quách Văn D và Bùi Trung H phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Quách Văn D từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù. Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự: Xử phạt Bùi Trung H từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù. Không áp dụng phạt bổ sung đối với bị cáo.
Áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 BLHS, điểm a, c khoản 2 Điều 106 BLTTHS, tịch thu để tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong dựng vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói ban đầu + 6,02 gam Heroine; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Quách Văn D và Bùi Trung H; 01 mũ bảo hiểm xe máy màu đỏ, trắng, đen có chữ “XE MÁY HƢNG THỊNH”, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm xe máy màu vàng, trắng, đen có chữ “Houver”, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung ngân sách Nhà Nƣớc: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Itel màu đen, số Imei1 là 335143111164824, số Imel2 là 355149111164832 và 01 sim số thuê bao 0965726071, thu giữ của Quách Văn D; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, BKS 28N1 – 38120, số khung RLHJA3911KY42335, số máy JA39E1293327, xe đã qua sử dụng; 200.000 đồng thu giữ của Bùi Trung H.
Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.
Ý kiến của các bị cáo: Bị cáo nhất trí, không có tranh luận gì.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Xin Hội đồng xét xử, xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo đƣợc hƣởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
. Ngày 10/8/2022 Quách Văn D và Bùi Trung H bị phát hiện bắt quả tang có hành vi cất giấu, tàng trữ trái phép 6,72 gam Heroine. Tổng số ma túy các bị cáo tàng trữ đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
. Tính chất hành vi của các bị cáo: Các bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, tàng trữ 6,72 gam Heroine, xâm hại đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nƣớc về các chất ma túy làm lây lan phát sinh các tệ nạn xã hội nhất là tội phạm về ma túy. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an toàn xã hội tại địa phƣơng, cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm dăn đe, giáo dục phòng ngừa chung.
Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án: Bị cáo Quách Văn D là ngƣời khởi xƣớng, rủ Bùi Trung H góp tiền đi mua ma túy và trực tiếp mua ma túy. Bị cáo Bùi Trung H tiếp nhận ý trí, góp tiền và cùng đi mua ma túy với Quách Văn D. Do vậy các bị can là đồng phạm với nhau trong vụ án và bị can D giữ vai trò chính trong vụ án, khi lƣợng hình căn cứ vai trò của từng bị cáo để có mức án tƣơng xứng với hành vi phạm tội của từng bị cáo.
Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Bùi Trung H ngày 12/5/2021 của Tòa án nhân dân huyện Lạc Sơn, tỉnh Hòa Bình xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chƣa đƣợc xóa án tích, tiếp tục phạm tội rất nghiêm trọng là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ Luật hình sự là tái phạm.
Bị cáo Quách Văn Hợp, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, là tình tiết giảm nhẹ đối với bị cáo đƣợc quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân các bị cáo: Các bị cáo là ngƣời có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, là đối tƣợng nghiện chất ma túy, Các bị cáo đều đã bị xét xử về tội phạm ma túy. Các bị cáo nhận thức biết rõ tác hại của ma tuý là nhà nƣớc cấm, coi thƣờng pháp luật, cố tình phạm tội nghiêm trọng.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo là ngƣời nghiện ma túy, bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, không có tài sản có giá trị, không có thu nhập, không đủ điều kiện và khả năng thi hành, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Vân Hồ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa và trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thƣ ký, Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên tham gia tố tụng tuân theo và chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về vật chứng của vụ án:
Đối với 01 phong bì niêm phong bên trong dựng vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói ban đầu + 6,02 gam Heroine; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Quách Văn D và Bùi Trung H; 01 mũ bảo hiểm xe máy màu đỏ, trắng, đen có chữ “XE MÁY HƢNG THỊNH”, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm xe máy màu vàng, trắng, đen có chữ “Houver”, đã qua sử dụng, là những vật cấm lƣu hành hoặc không có giá trị sử dụng cần đƣợc tuyên tịch thu tiêu huỷ.
Đối với 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Itel màu đen, số Imei1 là 335143111164824, số Imel2 là 355149111164832 và 01 sim số thuê bao 0965726071, thu giữ của Quách Văn D; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, BKS 28N1 – 38120, số khung RLHJA3911KY42335, số máy JA39E1293327, xe đã qua sử dụng là tài sản có nhân của bị cáo Quách Văn D; 200.000 đồng thu giữ của Bùi Trung H, các bị cáo sử dụng vào việc phạm tội, do vậy tịch thu sung ngân sách Nhà Nƣớc.
. Về nguồn gốc số ma túy thu giữ: Các bị cáo khai nhận mua của một ngƣời đàn ông dân tộc Mông, khoảng 40 tuổi, tự giới thiệu tên là Chứ, trú tại bản Co Tang, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ, tỉnh Sơn La; Chứ sử dụng số điện thoại 0396.240.396. Quá trình điều tra xác định chủ thuê bao 0396.240.396 là chị Vũ Thị Phận, sinh ngày 11/02/1987, trú tại: thôn Nghi Dƣơng, xã Ngũ Phúc, huyện Kiến Thụy, thành phố Hải Phòng. Xác định tại bản Co Tang, xã Lóng Luông, huyện Vân Hồ có 04 ngƣời tên là Chứ trong đó đã thu thập đƣợc ảnh của 03 ngƣời tên Chứ, còn lại 01 ngƣời là Tráng A Chứ, sinh năm: 1973 không thu thập đƣợc bản ảnh. Cơ quan điều tra đã cho bị can Quách Văn D nhận dạng qua ảnh với 03 ngƣời tên Chứ và nhận dạng chị Vũ Thị Phận. Kết quả Chứ khẳng định 04 ngƣời đƣợc nhận dạng đều không phải đối tƣợng bán ma túy cho Chứ. Đối với Tráng A Chứ không có mặt tại nơi cƣ trú, không chấp hành giấy triệu tập của Cơ quan điều tra. Chính quyền địa phƣơng không biết Tráng A Chứ đi đâu, làm gì. Do vậy, Cơ quan điều tra đã ra thông báo truy tìm Tráng A Chứ và đã tách ra để điều tra, xử lý sau là có căn cứ.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Quách Văn D, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt Quách Văn D 05 (Năm) năm 08 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/8/2022. Không phạt bổ sung bị cáo
2. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 38, Điều 17, Điều 58 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Bùi Trung H, phạm tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt Bùi Trung H 05 (Năm) năm 09 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/8/2022. Không phạt bổ sung bị cáo.
4. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự:
Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì niêm phong bên trong dựng vỏ gói niêm phong ban đầu + vỏ gói ban đầu + 6,02 gam Heroine; 02 phong bì niêm phong bên trong đựng que thử ma túy đối với Quách Văn D và Bùi Trung H; 01 mũ bảo hiểm xe máy màu đỏ, trắng, đen có chữ “XE MÁY HƢNG THỊNH”, đã qua sử dụng; 01 mũ bảo hiểm xe máy màu vàng, trắng, đen có chữ “Houver”, đã qua sử dụng.
Tịch thu sung ngân sách Nhà Nƣớc: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Itel màu đen, số Imei1 là 335143111164824, số Imel2 là 355149111164832 và 01 sim số thuê bao 0965726071, thu giữ của Quách Văn D; 01 chiếc xe máy nhãn hiệu HONDA, loại WAVE, BKS 28N1 – 38120, số khung RLHJA3911KY42335, số máy JA39E1293327, xe đã qua sử dụng; 200.000 đồng thu giữ của Bùi Trung H.
Theo biên bản giao nhận vật chứng số 16 ngày 21/10/2022 giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Vân Hồ.
5. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của UBTV Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Quách Văn D và Bùi Trung H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
- Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Toà án ND tỉnh;
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện;
- Công an;
- Trại giam;
- THA hình sự;
- THA dân sự;
- Bị cáo;
- Sở Tƣ pháp;
- Lƣu án văn;
- Lƣu hồ sơ.
Vũ Hồng nghiêm
THẨM PHÁN
HỘI THẨM NHÂN DÂN
HỘI THẨM NHÂN DÂN
CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
Vũ Hồng Nghiêm
| Nơi nhận: - Toà án ND tỉnh; - VKSND huyện; - Công an; - Trại giam; - THA hình sự; - THA dân sự; - Bị cáo; - Ngƣời có QLNVLQ; - Sở Tƣ pháp; - Lƣu án văn; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Hồng nghiêm |