- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T tàng trữ ma tuý và vận chuyển hàng cấm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm c khoản 1 Điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ Luật hình sự;
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 10 Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/HSST Ngày: 06/04/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NAM SÁCH - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Thúy;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Lan; Bà Nguyễn Thị Phương Nga.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Hà - Thư ký TAND huyện Nam Sách.
- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị La - Kiểm sát viên VKSND huyện Nam Sách.
Ngày 06/04/2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Nam Sách xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 19/2022/HSST ngày 15/03/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 20/2022/QĐXXST-HS ngày 23/03/2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1976;
ĐKHKTT và chỗ ở: Thôn Đ, xã H, huyện C, tỉnh Hải Dương;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh;
Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam;
Con ông Nguyễn Văn T1 và bà Vũ Thị H;
Gia đình có 5 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình;
Vợ là Đỗ Thị H1; Có 2 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2007.
Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Bản án số 50 ngày 25/3/2005 của Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội xử phạt 24 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 07/10/2006, nộp tiền án phí ngày 03/8/2005.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/12/2021 đến ngày 21/12/2021 áp dụng biện pháp tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hải Dương
Có mặt tại phiên toà.
Người bào chữa: Bà Nguyễn Thị U – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm trợ giúp pháp lý tỉnh Hải Dương; Địa chỉ: Số 113 T, TP H, tỉnh Hải Dương. Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tối ngày 17/12/2021, Nguyễn Văn T đang ở nhà thì có bạn tên T2 (không biết họ, địa chỉ cụ thể) đến rủ đi chơi. Người này chở T đến khu vực ngã tư qQ, huyện B, tỉnh Hải Dương và đưa cho T 01 xe mô tô nhãn hiệu Wave màu sơn xanh, BKS 29T6-7335 còn mình đi một xe khác (không nhớ biển số). Cả hai đến khu vực huyện N, mục đích chở pháo nổ thuê để lấy số tiền 2.000.000đồng. T2 và T không lấy được pháo nên đến nhà người bạn của T2 ở khu vực xã T, huyện N (không biết địa chỉ cụ thể) để ngủ. Tại đây, T2 lấy ma túy (loại heroine) để cả hai cùng sử dụng. Số ma túy còn thừa, T2 gói vào 01 tờ giấy trắng để vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long và mang theo trên người. Sáng ngày 18/12/2021, T2 và T đến khu vực chân cầu B thuộc thành phố C, tỉnh Hải Dương. Đến nơi, T đợi ở ngoài, T2 điều khiển xe của mình đi đâu đó quay lại chở theo 01 thùng bìa cát tông rồi tiếp tục lấy xe mô tô biển số 29T6 - 7335 của T điều khiển đi vào vào trong ngõ, quay lại chở theo 01 thùng bìa cát tông bên trong có pháo nổ đưa T điều khiển. Sau khi lấy được pháo, T điều khiển xe đi theo sự chỉ dẫn của T2. Khoảng 10 giờ 05 phút cùng ngày, T2 và T đi đến khu vực cổng đô thị T - Q thuộc địa phận xã T, huyện N, tỉnh Hải Dương, T2 đưa T vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói ma túy heroine rồi bảo T đứng đợi mình đi có việc. Ngay sau đó, T bị Công an huyện Nam Sách phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ đằng sau xe của T 01 thùng bìa cát tông bên trong có chứa 13 vật hình trụ tròn, vỏ ngoài bằng giấy màu đỏ, chiều cao từ 14,5 cm đến 17,5cm, đường kính từ 9cm đến 10 cm, được bịt kín hai đầu, một đầu có gắn sợi dây dài từ 7cm đến 15cm. Thu giữ trên tay trái T đang cầm 01 gói vỏ bao thuốc lá Thăng Long bên trong có 01 gói giấy hình gập vuông bên trong chứa các tinh thể màu trắng. T khai nhận 13 vật hình trụ tròn thu giữ là pháo nổ; chất bột màu trắng trong gói giấy là ma túy heroine mục đích sử dụng. Ngoài ra, lực lượng Công an còn thu giữ 01 xe mô tô biển số 29T6 - 7335.
Tại kết luận giám định số 37/KLGĐ-PC09 ngày 19/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương, kết luận: Chất bột (dạng cục) mầu trắng trong gói giấy được niêm phong trong phong bì gửi đến giám định khối lượng là: 0,124g (Không phẩy một trăm hau mươi bốn gam) là ma túy, loại Heroine.
Tại bản kết luận giám định số 125/KLGĐ-KTPL ngày 18/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an Thành phố Hải Phòng, kết luận: 13 (mười ba) vật hình trụ tròn, vỏ ngoài bằng giấy màu đỏ, chiều cao từ 14,5 cm đến 17,5cm, đường kính từ 9cm đến 10 cm, được bịt kín hai đầu, một đầu có gắn sợi dây dài từ 7cm đến 15cm gửi đến giám định có tổng khối lượng: 7,6 kg, là pháo nổ, khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ.
Về vật chứng: Đối với 6,6kg pháo nổ hoàn lại sau giám định đã được tiêu huỷ theo quy định. Đối với 0,103 gam ma túy loại Heroine, 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật hoàn lại sau giám định hiện đang quản lý hiện đang được lưu giữ chờ xử lý theo quy định. Đối với chiếc xe mô tô BKS 29T6 - 7335 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Sách tách ra xử lý riêng.
Tại bản Cáo trạng số 21/CT-VKS ngày 15/03/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương truy tố Nguyễn Văn T về các tội: Tàng trữ trái phép chất ma tuý theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS và tội Vận chuyển hàng cấm theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 BLHS.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị HĐXX: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm c khoản 1 Điều 191 điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 55, Điều 38 BLHS; Tuyên bố Nguyễn Văn T phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý và tội Vận chuyển hàng cấm; Xử phạt: T từ 12 - 14 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, từ 7- 9 tháng tù về tội Vận chuyển hàng cấm, tổng hợp hình phạt bằng 19 - 23 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ; Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng; Về vật chứng: Tịch thu cho tiêu huỷ số ma tuý, vỏ bao gói hoàn lại sau giám định; Về án phí: Miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo Nguyễn Văn T thừa nhận hành vi phạm tội của mình, xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách truy tố bị cáo là đúng, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Người bào chữa: Xác định về tội danh của bị cáo theo như cáo trạng truy tố là chính xác. Đề nghị HĐXX xem xét nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự, hoàn cảnh gia đình khó khăn, hiện vợ bị cáo đang bị ung thư, con lớn bị thiểu năng trí tuệ, gia đình bị cáo thuộc hộ nghèo. Về các tình tiết giảm nhẹ: sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bố đẻ bị cáo được tặng thưởng huy chương kháng chiến; đối với tội vận chuyển hàng cấm do bị cáo đã được xoá án tích nên được coi là chưa bị kết án, do đó bị cáo được hưởng tình tiết phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Đề nghị HĐXX áp dụng cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS đối với cả 2 tội, áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 BLHS đối với tội Vận chuyển hàng cấm, xử bị cáo ở mức hình phạt thấp nhất và miễn án phí cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi tố tụng, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra – Công an huyện Nam Sách, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại giai đoạn điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết luận giám định và các tang vật chứng, có đủ cơ sở kết luận: Hồi 10 giờ 05 phút ngày 18/12/2021, tại khu đô thị T - Q thuộc địa phận xã T, huyện N, Nguyễn Văn T có hành vi vận chuyển trái phép 13 quả pháo nổ tổng khối lượng là 7,6 kg và tàng trữ trái phép 0,124 gam ma túy loại Heroine. Mục đích T vận chuyển pháo để kiểm lời và tàng trữ ma túy để sử dụng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma tuý, về pháo nổ, gây mất trật tự tại địa phương. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc cất giấu trái phép chất ma túy có thành phần là Heroine là vi phạm pháp luật, nhận thức được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và xã hội đồng thời nhận thức được pháo nổ là hàng cấm, việc vận chuyển pháo nổ là vi phạm pháp luật nhưng vì để có tiền tiêu sài và để thỏa mãn cơn nghiện bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành các tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự và tội “ Vận chuyển hàng cấm“ theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Nam Sách truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo, bố đẻ bị cáo được tặng thưởng huy chương kháng chiến nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà người bào chữa cho bị cáo đề nghị áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội Vận chuyển hàng cấm. Xét bị cáo đã 1 lần bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý mặc dù đã được xoá án tích nhưng theo hướng dẫn tại Công văn số 01/2017/GĐ-TANDTC ngày 7/4/2017 giải đáp một số vấn đề về nghiệp vụ của Toà án nhân dân Tối Cao thì không được coi là phạm tội lần đầu, do đó không có căn cứ chấp nhận đề nghị của người bào chữa.
Về nhân thân: Bị cáo đã 1 lần bị bị kết án về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý mặc dù bản án đó bị cáo đã được xoá án tích, nhưng qua đó đánh giá về ý thức chấp hành pháp luật của bị cáo, bị cáo không lấy đó là bài học để sửa đổi lại tiếp tục có hành vi phạm tội. Xét tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Do bị cáo phạm 2 tội nên HĐXX áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt chung.
Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 Điều 249, khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự có quy định về hình phạt bổ sung là phạt tiền, nhưng xét bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản riêng, thuộc hộ nghèo nên hội đồng xét xử không phạt tiền đối với bị cáo.
Về vật chứng: Đối với 6,6kg pháo nổ hoàn lại sau giám định đã được tiêu huỷ theo quy định; Đối với chiếc xe mô tô BKS 29T6 - 7335 Nguyễn Văn T sử dụng chở pháo nổ, quá trình điều tra chưa xác định được chủ sở hữu. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Sách ra thông báo tìm chủ sở hữu và tách ra để xử lý riêng nên HĐXX không xem xét.
Đối với 0,103gam ma túy loại Heroine, 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì hoàn lại sau giám định là vật cấm lưu hành và vật không có giá trị nên cần tịch thu cho tiêu hủy.
Đối với người đàn ông tên T2 là người đưa gói ma túy cho T và đưa pháo nổ để T vận chuyển, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lý lịch cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Nam Sách tiếp tục xác minh nếu đủ căn cứ sẽ xử lý sau là phù hợp.
Về án phí: Bị cáo thuộc hộ nghèo nên HĐXX miễn án phí cho bị cáo theo quy định tại Điều 10 Luật phí và lệ phí, điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm c khoản 1 Điều 191, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 55 Bộ Luật hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm các tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “ Vận chuyển hàng cấm”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 12 (Mười hai) tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy và 7 ( Bảy) tháng tù về tội Vận chuyển hàng cấm, tổng hợp hình phạt bằng 19 (Mười chín) tháng tù, thời gian tính từ ngày tạm giữ 18/12/2021.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu cho tiêu hủy: 0,103 gam ma túy loại Heroine, 01 mảnh giấy và 01 vỏ phong bì được niêm phong trong bì thư số 37/KLGĐ-PC09 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện Nam Sách và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nam Sách ngày 05/4/2022.)
3. Về án phí: Áp dụng Điều 10 Luật phí và lệ phí; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 miễn án phí cho bị cáo Nguyễn Văn Thắng.
Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Nam Sách; - Cơ quan điều tra - CA huyện Nam Sách; - Cơ quan THAHS – CA huyện; - VKS tỉnh Hải Dương; - Sở TP tỉnh HD; - Phòng HSNV – Công an tỉnh; - Chi cục THA huyện Nam Sách; - UBND xã H, C; - Trại tạm giam Công an tỉnh HD; - Bị cáo; - Người bào chữa; - Lưu. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA ( Đã ký) Đoàn Thị Thu Thúy |