vanban.org

Bản án 20/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Tân Uyên, tỉnh Bình Dương Tuyên án 19/01/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao. Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian th… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn N - 260 - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự và hướng dẫn; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN UYÊN
TỈNH BÌNH DƯƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2022/HS-ST
Ngày: 19-01-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đậu Thị Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Thanh Cần;

2. Bà Võ Thị Hồng Tươi.

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thuyến – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Ngọc Ái - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 01 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 01/2022/TLST- HS ngày 05 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:

Huỳnh Văn N, sinh năm 1992 tại tỉnh An Giang; nơi thường trú: Ấp N, xã A, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; nơi tạm trú: Tổ A, khu phố P, phường P, thị xã T, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Tài xế; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh Văn A và bà Nguyễn Thị B; có vợ tên Nguyễn Thị Bảo X và 01 người con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

Bị hại: Ông Phạm Văn V, sinh năm 1995 (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Ông Phạm Văn C, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1971; cùng nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp (là cha, mẹ ruột của bị hại).

Người đại diện hợp pháp cho ông C và bà P: Ông Phạm Văn P, sinh năm 1994; nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp - là người đại diện theo uỷ quyền. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

Bị đơn dân sự: Công ty TNHH G; địa chỉ: phường P, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự: Ông Mai Thanh S, sinh năm 1989: nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện L, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, là người đại diện theo ủy quyền. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Phạm Văn P, sinh năm 1994; nơi cư trú: Ấp T, xã P, huyện L, tỉnh Đồng Tháp. Có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Huỳnh Văn N là tài xế lái xe cho Công ty TNHH G, có giấy phép lái xe hạng FC do Sở Giao thông Vận tải Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 15/3/2019, có giá trị sử dụng đến ngày 15/3/2024.

Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 26/02/2021, Huỳnh Văn N điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51D-471.25 kéo theo rơ moóc biển số 50R-026.23 đi từ Cảng vận tải Bình Dương tại thành phố Dĩ An, tỉnh Bình Dương đến bãi xe ở khu phố P, phường P, thị xã T, tỉnh Bình Dương để lấy hàng. Khi lưu thông đến đoạn đường ĐT 742 hướng từ thành phố Mới Bình Dương đi về phường V, thị xã T, Bình Dương, cách cổng công ty A khoảng 200 mét. Nu bật tín hiệu xi nhan rẽ phải, đồng thời cho xe ô tô đầu kéo biển số 51D-471.25 kéo theo rơ moóc biển số 50R-026.23 chuyển hướng rẽ phải để vào trong công ty A. Do không chú ý quan sát các phương tiện lưu thông cùng chiều và không đảm bảo an toàn nên mặt ngoài bánh xe bên phải trục thứ nhất của xe ô tô đầu kéo biển số 51D-471.25 va chạm với cần số và gác chân trước bên trái của xe mô tô biển số 66L1-445.71 do ông Phạm Văn V điều khiển đang lưu thông cùng chiều bên phải. Sau tai nạn, Huỳnh Văn N gọi điện trình báo Công an phường Phú Chánh và gọi xe cấp cứu cùng đưa ông Phạm Văn V đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Dương nhưng do thương tích nặng nên ông V tử vong tại bệnh viện, còn xe mô tô 66L1-445.71 bị hư hỏng.

Kết quả khám nghiệm hiện trường xác định:

Hiện trường vụ tai nạn xảy ra tại đoạn đường thẳng, bề mặt đoạn đường đều được trải nhựa phẳng, có vạch kẻ đường phân chia mặt đường, mỗi bên rộng 3,5m; bề mặt đoạn đường đo được là 7,0m; Bề rộng mặt của khoảng sân trước công ty Á Âu đo được là 17,4m.

Lấy mép đường bên phải theo hướng từ chợ Phú Chánh đến Vĩnh Tân làm mép chuẩn. Chọn trụ điện số 47 bên phải theo hướng từ Vĩnh Tân đến chợ Phú Chánh làm điểm mốc cố định.

Vị trí số 01 là vết cày có điểm đầu hướng về chợ Phú Chánh, điểm cuối hướng về Vĩnh Tân. Điểm đầu vết cày cách mép chuẩn 3,3m, cách tường rào cổng công ty Á Âu 14,1m. Chiều dài vết cày là 11,84m.

Vị trí số 02 là xe mô tô biển số 66L1-445.71. Đầu xe hướng về Vĩnh Tân, đuôi xe hướng về chợ Phú Chánh. Bánh trước xe cách mép chuẩn 6,12m, cách điểm mốc cố định 32,0m. Bánh sau cách mép chuẩn 3,59m.

Vị trí số 03 là xe ô tô đầu kéo biển số 51D-471.25 và rơ moóc biển số 50R-026.23. Đầu xe hướng vào công ty A, đuôi xe hướng về mép chuẩn. Bánh trước bên trái (1) cách mép chuẩn 25m. Bánh trước bên trái (2) cách mép chuẩn là 20m. Bánh trước bên trái (3) cách mép chuẩn 19m. Bánh sau bên trái (4) cách mép chuẩn 12,7m. Bánh sau bên trái (5) cách mép chuẩn 11,7m. Bánh sau bên trái (6) cách mép chuẩn 10,6m, cách bánh trước của xe mô tô biển số 66L1-445.71 5m. Bánh trước bên trái (1) cách bánh trước xe mô tô biển số 66L1-445.71 là 19,7m, cách điểm đầu vết cày 27,6m. Bánh bên phải (6) cách điểm đầu của vết cày 12,58m.

Kết quả khám nghiệm phương tiện:

Xe mô tô biển số 66L1-445.71: Phần mâm trước có vết mài mòn kim loại bên vành trái của mâm; phần nhựa chắn bùn trước có vết mài mòn nhựa; phần mặt nạ có vết mài mòn nhựa và bị bung bát cố định, kích thước 20 x 5; phần nhựa ốp dàn áo bên phải bị bung bát cố định; phần tay cầm bên phải có vết mài mòn cao su; phần tay thắng có vết mài mòn kim loại, kích thước 1,5 x 1,5; phần nhựa ốp đầu xe có vết mài mòn kim loại; phần hộp dựng đầu thắng của tay thắng có vết mài mòn kim loại; phần cần số bị cong vênh hướng từ trước ra sau; phần gác chân bên trái có vết mài mòn cao su, có vết trầy xước kim loại, dính vết sơn ô tô đầu kéo; phần ốp kim loại bên trái có vết mài mòn kim loại; phần nhựa ốp dàn áo bên trái có vết trầy xước; phần gác chân bên phải bị gãy hoàn toàn; phần chân thắng bị cong vênh hướng từ dưới lên trên, có vết mài mòn kim loại; phần ốp ống xả có vết trầy xước và vết mài mòn nhựa; phần gác chân sau bên trái và bên phải có vết mài mòn kim loại.

Xe ô tô đầu kéo biển số 51D-471.25 và rơ moóc biển số 50R-026.23: Phần bánh trước bên phải ô tô đầu kéo có vết mài mòn cao su; phần cản trước bên phải có dính vết máu của nạn nhân và có vết trầy xước; phần nhựa trước bên phải có dính vết máu nạn nhân; phần nhựa trước bên phải có vết nứt bể; phần mâm bánh trước bên phải có vết mòn kim loại; phần ốc mâm bánh trước bên phải có vết mài mòn kim loại.

Bản kết luận giám định số 87/GĐCH-PC09-GĐPY ngày 30/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận:

1. Dấu vết va chạm giữa xe ô tô đầu kéo biển số 51D-471.25 kéo sơ mi rơ moóc biển số 50R-026.23 và xe mô tô biển số 66L1-445.71 là: Dấu vết cong, trượt xước kim loại, bám dính chất màu đen (dạng cao su) và chất màu xanh (dạng sơn) ở đầu cầu số, mặt trước dưới gác chân trước bên trái xe mô tô biển số 66L1-445.71, có chiều từ trước về sau phù hợp với dấu vết trượt xước kim loại ở mâm và dấu vết in hằn hình đầu cần số, trượt xước lớp sơn màu xanh ở mặt ngoài lốp bên phải trục thứ nhất xe ô tô đầu kéo biển số 51D-471.25, có chiều từ mâm ra mặt lăn, ngược chiều quay tiến của bánh xe.

2. Cơ chế hình thành dấu vết trên các phương tiện là: Cần số và gác chân trước bên trái xe mô tô biển số 66L1-445.71 va chạm với mặt ngoài bánh xe bên phải trục thứ nhất xe ô tô đầu kéo biển số 51D-471.25 (như mục 1, phần V) làm xe mô tô đổ ngã qua phải va chạm với mặt phẳng (khoảng sân) ở hiện trường tạo ra dấu vết trên các phương tiện.

Quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên tạm giữ đồ vật, tài liệu liên quan gồm: 01 xe ô tô đầu kéo, biển số 51D-471.25; 01 rơ moóc biển số 50R-026.23; 01 giấy phép lái xe hạng FC tên Huỳnh Văn N; 01 xe mô tô biển số 66L1-445.71.

Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 170/PC09-GĐPY ngày 01/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Dương kết luận nguyên nhân chết của nạn nhân Phạm Văn V là do choáng đa chấn thương (dập rách hai phổi, tim, gan), chảy mất máu không hồi phục.

Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 148/KLTS-TTHS ngày 23/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản kết luận: Thiệt hại của xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 66L1-445.71 sau khi xảy ra va chạm vào ngày 26/02/2021 là 2.220.000 đồng.

Xe ô tô đầu kéo biển số 51D-471.25 và 01 rơ moóc biển số 50R-026.23. Qúa trình điều tra xác định thuộc sở hữu hợp pháp của công ty TNHH G. Ngày 05/4/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho ông Mai Thanh S là người đại diện hợp pháp của công ty TNHH G.

Xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển số 66L1-445.71. Qúa trình điều tra xác định xe thuộc sở hữu hợp pháp của ông Phạm Văn V. Ngày 05/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã Tân Uyên ban hành Quyết định xử lý vật chứng trả lại xe cho ông Phạm Văn P là người đại diện hợp pháp của bị hại.

Về phần trách nhiệm dân sự: Công ty TNHH G và bị cáo đã bồi thường cho đại diện bị hại số tiền 130.000.000 đồng là tiền chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và 10.000.000 đồng chi phí sửa chữa xe mô tô biển số 66L1-445.71. Đại diện bị hại không có yêu cầu gì khác. Đối với số tiền bồi thường, bị đơn dân sự và bị cáo tự thỏa thuận với nhau, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bản Cáo trạng số 21/CT-VKS.TU ngày 31/12/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Huỳnh Văn N về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử như sau:

+ Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn N từ 15 tháng đến 21 tháng tù, cho hưởng án treo.

+ Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại không có yêu cầu gì thêm nên không đặt ra xem xét.

+ Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe hạng FC.

- Bị cáo Huỳnh Văn N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thống nhất tội danh, khung hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp dụng, không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo cơ hội sửa chữa lỗi lầm để trở thành công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Tân Uyên, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt nhưng đã có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Quá trình điều tra, lời khai của họ không mâu thuẫn với lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Đại diện Viện kiểm sát và bị cáo đồng ý xét xử vắng mặt những người này. Xét thấy, việc vắng mặt của người đại diện hợp pháp của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không ảnh hưởng đến việc xét xử, căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người này.

Lời khai nhận tội của bị cáo Huỳnh Văn N tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án như biên bản khám nghiệm hiện trường, sơ đồ và bản ảnh hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến tai nạn giao thông, vật chứng thu giữ, kết luận giám định pháp y. Do đó, có đủ cơ sở kết luận:

Ngày 26/02/2021, tại đoạn đường ĐT 742 thuộc khu phố P, phường P, thị xã T, tỉnh Bình Dương, bị cáo Huỳnh Văn N điều khiển xe ô tô đầu kéo biển số 51D-471.25 kéo theo 01 rơ moóc biển số 50R-026.23 chuyển hướng rẽ phải không chú ý quan sát, không đảm bảo an toàn nên va chạm với xe mô tô biển số 66L1-445.71 do ông Phạm Văn V điều khiển đang lưu thông cùng chiều bên phải dẫn đến tai nạn. Hậu quả làm ông Phạm Văn V tử vong.

Hành vi của bị cáo đã vi phạm khoản 1 Điều 15 của Luật giao thông đường bộ dẫn đến hậu quả làm 01 người chết. Do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Uyên truy tố bị cáo về tội danh, khung hình phạt là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, được cấp giấy phép lái xe theo quy định, biết rõ các quy định về trật tự an toàn giao thông đường bộ nhưng không nghiêm chỉnh chấp hành, khi bị cáo chuyển hướng xe không quan sát xe chạy cùng chiều, không đảm bảo an toàn giao thông nên gây tai nạn, lỗi của bị cáo là vô ý do cẩu thả. Hành vi của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm quy định của Nhà nước về an toàn, trật tự công cộng, tước đi mạng sống của người khác, gây đau thương, mất mát cho gia đình nạn nhân, ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn giao thông tại địa phương. Do đó cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm nhằm đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã đầu thú; bị cáo đã cùng bị đơn dân sự bồi thường thiệt hại cho gia đình bị hại; đại diện gia đình bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nơi cư trú rõ ràng, nhân thân tốt, là lao động chính trong gia đình hiện nay đang trực tiếp nuôi con nhỏ dưới 01 tuổi, có khả năng tự cải tạo, việc cho bị cáo hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự và hướng dẫn của Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao, cho bị cáo nói trên hưởng án treo, tự cải tạo ở địa phương.

Lời đề nghị mức hình phạt của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa có căn cứ, đúng luật, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.

Về trách nhiệm dân sự: Đại diện bị hại đã nhận 130.000.000 đồng chi phí mai táng, tổn thất tinh thần và 10.000.000 đồng chi phí sửa chữa xe mô tô, không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Số tiền Công ty TNHH G cùng bị cáo tự nguyện bồi thường cho gia đình bị hại, Công ty TNHH G không yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị cáo phải trả lại nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung cấm bị cáo hành nghề lái xe nên trả lại cho bị cáo giấy phép lái xe hạng FC.

Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phạm tội và bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn N phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

1. Về hình phạt: Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án (19/01/2022).

Giao bị cáo Huỳnh Văn N cho Ủy ban nhân dân phường Phú Chánh, thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Trả lại cho bị cáo Huỳnh Văn N 01 giấy phép lái xe hạng FC tên Huỳnh Văn N.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 13/01/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Uyên, tỉnh Bình Dương)

3. Về án phí sơ thẩm: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Huỳnh Văn N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo; người đại diện hợp pháp của bị hại; bị đơn dân sự; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết công khai./.

Cỡ chữ