- Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma túy - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị B phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/HS - ST Ngày: 17/11/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HÓA- TỈNH THANH HÓA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Nga
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Loan
2. Bà Đỗ Thị Sinh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
- Đại diện VKSND thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Huyền - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 11 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 24/2022/TLST- HS ngày 27 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐXXST- HS ngày 04 tháng 11 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Thị H - sinh năm 1980; nơi cư trú: L, phường Đ, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Duy N – sinh năm 1951 và bà Nguyễn Thị B2 - sinh năm 1953; gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ ba; chồng là Hồ Văn T (đã chết); có 02 con, con lớn sinh năm 1996; con nhỏ sinh năm 2005; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 19/5/2009 bị Toà án nhân dân TP. Thanh Hoá xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tạm giữ: 03/8/2022; tạm giam: 08/8/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thanh Hóa; (có mặt).
2. Nguyễn Thị B - sinh năm 1958; nơi cư trú: N, phường Q, thành phố T, tỉnh Thanh Hóa; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 0/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công B3 (đã chết) và bà Phạm Thị V - sinh năm 1925; chồng là Nguyễn Đức C – sinh năm 1953; có 02 con, con lớn sinh năm 1980; con nhỏ sinh năm 1985; tiền án: không; tiền sự: không; nhân thân: ngày 19/5/2009 bị Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; tạm giữ: 02/8/2022; tạm giam: 08/8/2022 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thanh Hóa; (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18h30’ ngày 02/8/2022 Nguyễn Thị B đến nhà Nguyễn Thị H ở L, phường Đ, thành phố T mua 01 túi nilong màu trắng, viền đỏ kích thước khoảng (4 x 6) cm bên trong chứa cục bột màu trắng giá 1.700.000đ. Sau đó B mang về nhà lấy một ít ra chia thành 06 gói nhỏ, kích thước mỗi gói khoảng (1 x 1) cm bọc phía ngoài là nilon màu đen cất dưới mâm cơm đặt tại phòng khách. Số ma túy còn lại B cất trong người. Đến 19h10’ ngày 02/8/2022, tại trước N, phường Q, thành phố T, khi bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thanh Hóa kiểm tra B tự giác giao nộp cho Tổ công tác cho tổ công tác 01 túi nilong màu trắng, kích thước khoảng (4 x 6) cm bên trong có chứa chất bột màu trắng. Tại chỗ B khai nhận đây là ma túy, B cất giấu mục đích bán nhưng chưa bán được thì bị bắt.
Khám xét khẩn cấp nơi ở của B, Cơ quan điều tra thu giữ dưới mâm ăn cơm tại phòng khách nhà B 01 túi nilon màu trắng viền đỏ, kích thước khoảng (8x 12) cm, bên trong chứa 06 gói nilong màu đen, kích thước mỗi gói khoảng (1 x 1) cm trong mỗi gói đều chứa chất cục bột màu trắng.
Cơ quan điều tra đã tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Thị H tại số nhà L, phường Đ, thành phố T, Nguyễn Thị H đã tự giác giao nộp cho Tổ công tác 1.340.000đ. Theo H khai đây là số tiền còn lại của H bán 01gói ma túy cho B vào hồi 18h30’ ngày 02/8/2022.
Nguồn gốc số ma túy H bán cho B: Sáng ngày 02/8/2022, H đến khu vực cầu Đông Hương, thành phố Thanh Hóa gặp, mua của một người phụ nữ khoảng 50 tuổi H không biết tên, địa chỉ cụ thể 01 túi ma túy giá 1.500.000đ sau đó B đến mua, H đã bán gói ma túy trên cho B giá 1.700.000đ.
Về phụ nữ bán ma túy cho H, H không biết nhân thân, địa chỉ cụ thể ở đâu. Do đó, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Thanh Hóa không có căn cứ để xác minh, làm rõ và xử lý.
Tại Bản kết luận giám định số 2672/PC09 ngày 08/8/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa, kết luận:
- Chất cục bột màu trắng của phong bì mặt trước có ghi “Quả tang” niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 1,421gam, loại heroine;
- Chất cục bột màu trắng của phong bì mặt trước có ghi “Khám xét” niêm phong gửi giám định là ma túy, có tổng khối lượng 0,338gam, loại heroine.
Tại cáo trạng số 275/CT-VKS ngày 26/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị B về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa luận tội giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự, tuyên bố các bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị B phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; đề nghị mức hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị H từ 30 tháng tù đến 36 tháng tù; Nguyễn Thị B từ 27 tháng tù đến 30 tháng tù. Đề nghị tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định, tịch thu sung vào ngân sách nhà nước số tiền 1.340.000đ; Truy thu số tiền 360.000đ của Nguyễn Thị H để sung công quỹ nhà nước. Về án phí: buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng. Các bị cáo không có ý kiến bào chữa cho hành vi của mình và không tranh luận. Lời nói sau cùng, các bị cáo tha thiết xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
ơ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan Công an thành phố Thanh Hóa, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, không khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Về tội danh: Tại phiên tòa, một lần nữa các bị cáo khai nhận: Vào khoảng 18h30’ ngày 02/8/2022 tại số nhà L, phường Đ, thành phố T, Nguyễn Thị H bán cho Nguyễn Thị B 1,759g ma túy, loại heroin. Sau khi mua được ma túy, B mang về nhà ở N, phường Q, thành phố T chia nhỏ cất giấu mục đích bán kiếm lời, đến khoảng 19h30’ cùng ngày thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Thanh Hóa phối hợp với Công an phường Q phát hiện bắt quả tang. Các bị cáo cũng thừa nhận khối lượng ma túy các bị cáo mua, bán cho nhau về để bán là 1,759g gam loại Heroine như kết quả giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa là đúng.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hôm nay thống nhất với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, cùng các tài liệu khác phản ánh trong hồ sơ. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị B có đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội danh và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.
. Về tính chất vụ án: Là nghiêm trọng, hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về ma túy, xâm hại trật tự an toàn xã hội, là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Hành vi của các bị cáo cần phải xử lý nghiêm.
. Về nhân thân và trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Các bị cáo đều không có tiền án, tiền sự; nhưng bị cáo H có nhân thân xấu từng bị Toà án nhân dân TP. Thanh Hoá xử phạt về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” nay lại phạm tội cùng loại, chứng tỏ bị cáo không chịu cải sửa; ở lần phạm tội này hành vi của bị cáo một lần nữa thể hiện sự xem thường pháp luật. Với hành vi và nhân thân của các bị cáo cần cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai báo, nhận rõ sai phạm về hành vi phạm tội của mình; bị cáo H có bố mẹ đẻ được Ban liên lạc toàn quốc bộ đội Trường Sơn tặng kỷ niệm chương chiến sỹ Trường Sơn; bị cáo B có chồng là thương binh. Căn cứ điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, giảm nhẹ một phần hình phạt để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo thành công dân tốt.
. Về vật chứng: Số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong mẫu vật do Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành, tiền nộp kho bạc nhà nước Việt Nam: 1.340.000đ hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hoá là vật cấm tàng trữ, lưu hành và do phạm tội mà có nên căn cứ Điều 47 BLHS; khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106 BLTTHS nên tịch thu tiêu huỷ và sung quỹ nhà nước. Truy thu số tiền 360.000đ của Nguyễn Thị H để sung công quỹ nhà nước.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định tại khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm a, b khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị B phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
\Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị H 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 03/8/2022.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị B 27 (hai mươi bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 02/8/2022.
2. Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong 01 phong bì niêm phong do Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Thanh Hóa phát hành.
- Sung quỹ nhà nước số tiền 1.340.000đ; Truy thu số tiền 360.000đ của Nguyễn Thị H để sung công quỹ nhà nước
(Toàn bộ vật chứng hiện đang tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa, theo biên bản giao nhận vật chứng số: 10/THA ngày 02/11 /2022 giữa Công an thành phố Thanh Hóa với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thanh Hóa).
3. Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí HSST.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 7,9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSNDTP. Thanh Hóa; - Công an TP. Thanh Hóa; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - Chi cục THADS TP. Thanh Hóa; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) { Trần Thị Nga |