vanban.org

Bản án 20/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Điện Biên Tuyên án 12/12/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Giàng Vả C phạm tội:“Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 39 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng Vả C Tù chung thân. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng Vả C - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Giàng Vả C phạm tội:“Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH ĐIỆN BIÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2022/HS-ST
Ngày: 12-12-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐIỆN BIÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hòa.

Thẩm phán: Bà Đỗ Thu Hương

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hà Thị Vũ

Ông Sùng A Xà

Bà Đỗ Thị Luyến

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Phượng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên tham gia phiên tòa: Ông Trịnh Ngọc Minh, Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Điện Biên đã tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 11/2022/TLST-HS ngày 26 tháng 10 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2022/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Giàng Vả C (tên gọi khác: không); sinh năm 1974 tại huyện Mù Cang C, tỉnh Yên B. Nơi cư trú: Bản P A, xã Na Cô S, huyện Nậm P, tỉnh Điện Biên; nghề nghiệp: Nông nghiệp; trình độ văn hóa: Không; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Tin Lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giàng A T (đã chết) và bà Thào Thị D (đã chết); có vợ là Hờ Thị D, sinh năm 1976, bị cáo có 05 con: con lớn nhất sinh năm 1994, con nhỏ nhất sinh năm 2019. Tiền án: không; tiền sự: không. Nhân thân: Năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Mường N, tỉnh Điện Biên xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (bị cáo chấp hành hình phạt tù xong ngày 30/8/2017, đã được xóa án tích). Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 18/7/2022, đến ngày 20/7/2022 bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Điện Biên cho đến ngày xét xử (có mặt).

- Người bào chữa: Ông Lê Đình T, Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Điện Biên (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Hờ Thị D, sinh năm: 1976; địa chỉ: Bản P A, xã Na C S, huyện Nậm P, tỉnh Điện Biên (có mặt).

- Người phiên dịch: Bà Giàng Thị N, sinh năm 1987, địa chỉ: Số nhà A, tổ B, phường Mường T, thành phố Điện B P, tỉnh Điện Biên (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 06/2022 (không nhớ ngày), một người đàn ông dân tộc Mông, giới thiệu tên là T (không rõ lai lịch) đến nhà Giàng Vả C chơi, qua trò chuyện T hỏi C có Heroine không cho T xin một ít để sử dụng, C nói không có, lúc sau T cho C số điện thoại, nói là của người Lào, bảo C khi nào cần mua ma túy thì gọi vào số đó. Khoảng 10 ngày sau, C gọi vào số điện thoại T cho thì có một người phụ nữ nghe máy, qua trao đổi, người phụ nữ nói giá 01 bánh hồng phiến là 15 triệu đồng, C đồng ý mua và hẹn khi nào chuẩn bị được tiền sẽ gọi lại. Ba ngày sau C nhận được điện thoại của T, T nói sẽ cung cấp số điện thoại của C cho cậu của T, để cậu T liên hệ với C trao đổi mua bán ma túy. Khoảng 10 ngày sau, C nhận được điện thoại của một người nam giới tự giới thiệu là cậu của T (không rõ tên tuổi địa chỉ) đặt mua 02 bánh hồng phiến. C thống nhất bán với giá 25 triệu đồng/01 bánh nhưng hiện tại C không có tiền để mua ma túy, nghe vậy cậu của T hẹn C xuống Trung tâm xã Nà H, huyện Nậm P để đưa trước cho C 20 triệu đồng đi mua ma túy về bán cho cậu T, số tiền còn lại nợ 30 triệu đồng sẽ trả sau khi C giao ma túy. Sáng ngày 17/7/2022 C một mình điều khiển xe mô tô xuống trung tâm xã Nà H, tìm gặp cậu của T tại 01 phòng trọ, tại đây cậu của T đưa cho C 20 triệu đồng. Trưa cùng ngày C điện thoại cho người phụ nữ đã hẹn, đặt mua 02 bánh hồng phiến nhưng trả trước 20 triệu đồng, còn nợ lại 10 triệu đồng, người phụ nữ nhất trí và hẹn địa điểm mua bán ma túy, thống nhất xong C cầm 20 triệu đồng và 01 chiếc túi bằng vỏ bao xác rắn có quai đeo rồi điều khiển xe mô tô từ nhà đi qua khu vực Mốc 4, xã Nậm T giấu xe vào bụi cây ven đường rồi đi bộ lên khu vực bản Huổi S, xã Nà H, huyện Nậm P, tỉnh Điện Biên, đợi khoảng một giờ thì người phụ nữ đó đến bán cho C 02 bánh hồng phiến, C đưa cho người phụ nữ 20 triệu đồng xong C cất giấu 02 bánh hồng phiến vào túi đeo trên người đi bộ xuống đường tỉnh lộ 145B và điện thoại cho cậu của T hẹn địa điểm đến nhận ma túy. C đợi đến khoảng hơn 03 giờ sáng ngày 18/7/2022 thì cậu của T đến bảo C ra khu vực khác vì ở đây sợ bị phát hiện. C cầm ma túy ngồi sau xe cậu của T chở đi được khoảng 10m thì dừng lại, mang ma túy vào bụi cỏ cách đường khoảng 5m theo hướng bản Sang, xã Nà H đi xã Phìn H, huyện Nậm P để trao đổi mua bán. Hồi 04 giờ ngày 18/7/2022 khi cậu của T đang mở túi hồng phiến của C ra kiểm tra thì bị lực lượng chức năng phát hiện, lợi dụng sơ hở cậu của T đã chạy thoát còn C bị bắt, thu giữ vật chứng là 1.225,77 gam Methamphetamine.

Tại Bản kết luận giám định số: 1052/KL-KTHS ngày 27/7/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Điện Biên kết luận: 60 (sáu mươi) mẫu các viên nén màu hồng được ký hiệu từ mẫu số 1 đến mẫu số 60 trích ra từ vật chứng thu giữ của Giàng Vả C gửi giám định là chất ma túy loại: Methamphetamine và khối lượng vật chứng thu giữ của Giàng Vả C là: 1.225,77 gam.

Bản Cáo trạng số: 79/CT-VKS-P1 ngày 24/10/2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố Giàng Vả C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điểm b khoản 4 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa,

- Đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên giữ quyền công tố và kiểm sát xét xử giữ nguyên quyết đi ̣nh truy tố đối vớ i bị cáo Giàng Vả C và đề nghi ̣ Hội đồng xét xử : Căn cứ điểm b khoản 4 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 39 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Giàng Vả C với mức án Tù chung thân về tội Mua bán trái phép chất ma túy; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy số ma túy thu giữ của bị cáo còn lại sau khi giám định gồm: 1.195,77 gam Methamphetamine; 01 túi xách làm bằng bao tải xác rắn, màu trắng đã xỉn màu có kích thước 38,5cm x 24cm; tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Itel it 5020, màu đen đã qua sử dụng thu giữ của Giàng Vả C.

Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm có giá ngạch cho bị cáo.

- Người bào chữa cho bị cáo đồng tình với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên về tội danh, khung hình phạt áp dụng, các tình tiết giảm nhẹ. Người bào chữa cho rằng nguyên nhân bị cáo phạm tội là do hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng mức hình phạt phù hợp, cho bị cáo cơ hội được sống, nhất trí với quan điểm của đại diện VKS, đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

- Bị cáo Giàng Vả C khai nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố. Bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Tại lời nói sau cùng, bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt để có cơ hội trở về với gia đình, hòa nhập cộng đồng và cải tạo thành công dân tốt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Hờ Thị D trình bày: Chiếc xe máy mà bị cáo sử dụng làm phương tiện phạm tội bà không biết bị cáo mua từ bao giờ, xe có giấy tờ hay không, bà cũng không biết đặc điểm xe như thế nào, hiện bà không biết chiếc xe máy đang ở đâu nên không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Quá trình xét hỏi và tranh tụng tại phiên tòa, thể hiện: Vào hồi 04 giờ ngày 18/7/2022, tại khu vực bản Huổi S, xã Nà H, huyện Nậm P, tỉnh Điện Biên, Giàng Vả C đang thực hiện hành vi trao đổi, mua bán trái phép 1.225,77 gam Methamphetamine với một người đàn ông (không rõ họ tên và lai lịch) thì bị Tổ công tác Công an huyện huyện Nậm P phối hợp với các cơ quan chức năng phát hiện bắt quả tang. Lợi dụng sơ hở của Tổ công tác, người đàn ông đã chạy thoát. Vật chứng thu giữ bên cạnh C là 01 túi xách làm bằng bao tải xác rắn, màu trắng đã xỉn màu có kích thước 38,5cm x 24cm, bên trong có chứa 02 bánh hình hộp chữ nhật, trong mỗi bánh có 30 túi nhỏ chứa các viên nén màu hồng. Tại thời điểm bị bắt và tại phiên tòa, C khai đó là ma túy (hồng phiến).

Tại phiên tòa, bị cáo Giàng Vả C đã khai nhận hành vi phạm tội như bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên đã truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 04 giờ 00 phút ngày 18/7/2022, Biên bản niêm phong đồ vật, tài liệu bị tạm giữ ngày 18/7/2022, Biên bản mở niêm phong xác định khối lượng lấy mẫu giám định ngày 18/7/2022, Biên bản khám xét lập hồi 08 giờ 00 phút ngày 18/7/2022; phù hợp với Kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi mà bị cáo Giàng Vả C đã thực hiện là đặc biệt nghiêm trọng, mua bán trái phép chất ma túy với khối lượng lớn, có tính nguy hiểm cao cho xã hội bởi số ma túy này khi được phát tán trót lọt ra ngoài xã hội sẽ làm gia tăng số người nghiện ma túy, làm ảnh hưởng đến sức khỏe cộng đồng, khánh kiệt kinh tế của nhiều gia đình, đây cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác.

Hành vi đó đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý các chất ma túy của Nhà nước, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử sơ thẩm có đủ căn cứ khẳng định Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điện Biên truy tố bị cáo Giàng Vả C về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, bị cáo không bị oan sai.

Lời bào chữa của Người bào chữa về tội danh, khung hình phạt áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ nên được chấp nhận.

Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

Bị cáo Giàng Vả C không có trình độ học vấn do không được đi học, ở nhà lao động sản xuất cùng gia đình, sau đó xây dựng gia đình; bị cáo nghiện ma túy từ năm 1997; năm 2012, vi phạm pháp luật nên bị Tòa án nhân dân huyện Mường N xử phạt 07 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy (tại Bản án hình sự sơ thẩm số 34/2012/HS-ST ngày 27/4/2012); ngày 30/8/2017 bị cáo chấp hành án xong trở về địa phương, tính đến ngày phạm tội lần này, bị cáo đã được xóa án tích. Bị cáo nhận thức được hành vi mua bán trái phép chất ma túy là trái pháp luật, nhưng vì hám lời, muốn có tiền một cách nhanh chóng mà không phải mất sức lao động nên bị cáo tiếp tục phạm tội.

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo Giàng Vả C phạm tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, nhân thân xấu, khối lượng ma túy gấp hơn 12 lần khối lượng ma túy khởi điểm của khung hình phạt, do đó Hội đồng xét xử cần áp dụng mức hình phạt tù không thời hạn mới đủ để cải tạo, giáo dục bị cáo, đồng thời nhằm phòng ngừa tội phạm nói chung, tội phạm ma túy nói riêng.

Đề nghị của đại diện VKS và người bào chữa về hình phạt là có căn cứ nên được chấp nhận.

Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại Khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.

Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy nghề nghiệp chính của bị cáo là làm nông nghiệp, không có nguồn thu nhập nào khác, điều kiện kinh tế khó khăn. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát và Người bào chữa, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với vật chứng là ma túy, sau khi trích mẫu gửi giám định, còn lại 1.195,77 gam Methamphetamine, đây là vật Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với 01 túi xách làm bằng bao tải xác rắn, màu trắng đã xỉn màu, có kích thước (38,5 x 24)cm là vật bị cáo sử dụng để cất giấu ma túy, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy.

- Đối với chiếc điện thoại di dộng, nhãn hiệu Itel it 5020, màu đen, bị cáo sử dụng vào việc liên lạc, trao đổi thỏa thuận và hẹn địa điểm mua bán ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách nhà nước.

Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về việc xử lý vật chứng là hoàn toàn có căn cứ pháp luật nên được chấp nhận.

Các vấn đề khác:

Đối với người đàn ông tên T, cậu của T và người phụ nữ bán ma túy cho bị cáo, do bị cáo không biết rõ họ tên, địa chỉ của các đối tượng này nên không có căn cứ để điều tra làm rõ, Hội đồng xét xử không có cơ sở xử lý.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo C khai đã sử dụng chiếc xe máy không có biển kiểm soát làm phương tiện phạm tội, nhưng trước khi bị bắt, bị cáo đã giấu xe máy vào bụi cây ven đường tại khu vực Km 18+100 tỉnh lộ 145B, thuộc bản Huổi S, xã Nà H, huyện Nậm P, tỉnh Điện Biên; hiện xe đã bị mất. Quá trình điều tra cơ quan Công an đã xác minh nhưng chưa tìm thấy; do không đủ thông tin đối với chiếc xe máy trên nên cơ quan điều tra không có căn cứ ra quyết định truy tìm. Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét.

Đối với các số điện thoại 0386.364.xxx và 0339.648.xxx bị cáo khai của người phụ nữ bán 02 bánh ma túy cho bị cáo và của cậu của T đưa bị cáo 20 triệu đồng đặt mua ma túy. Quá trình điều tra xác định: Chủ thuê bao đăng ký số điện thoại 0386.364.xxxlà Ngải Seo C, sinh năm 2001, trú tại xã Phìn H, huyện Nậm P, tỉnh Điện Biên. Xác định thực tế thì Cho trú tại bản M, xã Phìn H, huyện Nậm P, tỉnh Điện Biên. Hiện tại Cho không có mặt tại nơi cư trú, nên chưa điều tra làm rõ được. Cơ quan điều tra sẽ tiếp tục điều tra, xác minh nếu có đủ căn cứ sẽ xử lý sau.

Còn số điện thoại 0339.648.xxx là Mùa A T, sinh năm 1989, trú tại bản Nái P, phường Him L, thành phố Điện B P, tỉnh Điện Biên. Cơ quan điều tra đã xác minh không có ai trên là Mùa A T như địa chỉ trên. Hội đồng xét xử không đề cập xem xét xử lý.

Về án phí: Bị cáo Giàng Vả C là dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo; tại phiên tòa bị cáo xin miễn toàn bộ án phí Hình sự sơ thẩm. Do đó, căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của Cơ quan điều tra Công an huyện Nậm P, Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyện Nậm P, Công an tỉnh Điê ̣n Biên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Điê ̣n Biên, các Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đa thự̃

c hiê ̣n đúng về thẩm quyền, trinh tự, thủ tu ̣c quy đi ̣nh của Bô ̣ luâ ̣t Tố

̀

tu ̣ng hinh sự̀

. Bi ̣ cáo, người bào chữa, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoă ̣c khiếu na ̣i về hành vi, quyết đi ̣nh của cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng. Do đó, các hành vi, quyết đi ̣nh tố tu ̣ng của cơ quan tiến hành tố tu ̣ng, ngườ i tiến hành tố tu ̣ng đa thự̃

c hiê ̣n đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Giàng Vả C phạm tội:“Mua bán trái phép chất ma túy”.

2. Áp dụng: điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 39 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Giàng Vả C Tù chung thân.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (18/7/2022).

3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu hủy 1.195,77 gam Methamphetamine thu giữ của Giàng Vả C là vật chứng của vụ án còn lại sau khi giám định; 01 túi xách làm bằng bao tải xác rắn, màu trắng đã xỉn màu, có kích thước (38,5 x 24)cm.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di dộng, nhãn hiệu Itel it 5020, màu đen (điện thoại cũ đã qua sử dụng) thu giữ của Giàng Vả C.

(Theo Biên bản giao, nhận vật chứng giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Điện Biên và Cục Thi hành án dân sự tỉnh Điện Biên ngày 25/10/2022).

4. Về án phí: Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12, Khoản 6 Điều 15 Nghị quyết số326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng Vả C.

5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ các Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Bị cáo Giàng Vả C có quyền kháng cáo bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (12/12/2022).

Cỡ chữ