- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý làm hư hỏng tài sản - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 143 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Chau S phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 20/2022/HS-ST Ngày: 19-7-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN, TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Sơn Thị Thúy Liễu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ngọc Phượng;
2. Bà Cao Thị Phương Trang.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Văn Quới, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoài Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 16/2022/TLST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2022/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 7 năm 2022, đối với bị cáo:
Chau S, sinh năm 1984. Nơi sinh: Huyện T, tỉnh An Giang.
Đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang; nơi cư trú: Ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 12/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo Phật; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Chau K và bà Néang N; Anh, chị, em có 05 người, bị cáo là người thứ 02; Vợ: Rấm L, sinh năm 1990 (đã ly hôn); Con có 02 người, lớn nhất sinh năm 2012 nhỏ nhất sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Từ nhỏ sống chung với gia đình học đến lớp 12 và làm thuê sinh sống.
Bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 30/3/2022 đến nay, bị cáo có mặt.
Các bị hại:
Ông Lê N, sinh ngày 13/5/2001. Địa chỉ: Ấp B, xã C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
Ông Nguyễn B, sinh ngày 11/01/2004. Địa chỉ: Khóm 1, thị trấn TT, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Ông Bùi T, sinh năm 1989. Địa chỉ: Ấp T, xã C, huyện T, tỉnh An Giang. vắng mặt;
Bà Nguyễn V, sinh năm 1969. Địa chỉ: Khóm 2, thị trấn TT, huyện T, tỉnh An Giang. vắng mặt;
Ông Đào T, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp T, xã C, huyện T, tỉnh An Giang. vắng mặt;
Bà Ngô M, sinh năm 1974. Địa chỉ: Ấp B, xã C, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người làm chứng:
Ông Chau T, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp A, xã C, huyện T, tỉnh An Giang, có mặt;
Ông Chau T, sinh năm 1993. Địa chỉ: Ấp A, xã C, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt;
Ông Chau R, sinh năm 1988. Địa chỉ: Ấp A, xã C, huyện T, tỉnh An Giang, vắng mặt.
Người phiên dịch: Ông Kim S, sinh năm 1964; Cư trú: Ấp P, xã C, huyện T, tỉnh An Giang. Đơn vị công tác: Chủ tịch Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã C.
NỘI DUNG V ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 25/11/2021, Chau S uống rượu cùng Chau R, Chau T tại nhà Chau Th (em rễ S), thuộc ấp A, xã C, huyện T, thì được Neáng S (em của S) cho biết có người cầm hung khí đi tìm S. Lúc bấy giờ, S bước ra đường thấy Bùi T điều khiển xe mô tô màu xám xanh, loại Future biển số 67N1-288.79; Ch (chưa rõ họ, địa chỉ) điều khiển xe mô tô màu đen xám, loại Vision biển số 671-409.84 chở Nguyễn B; Lê N điều khiển xe mô tô màu cam nâu đen, loại Vario biển số 67N1-510.04 chở P (chưa rõ họ, địa chỉ) đi từ hướng chợ Phnôm Pi về cách chổ S đứng khoảng 15m dừng lại, S kêu Th, T, R ra chặn nhóm của Thi thì cả hai nhóm nhặt chai thủy tinh, gạch đá ném qua lại nhưng không trúng ai. S cầm đoạn kim loại tròn dài 55 cm, đường kính 4,5 cm, hàn với miếng kim loại vuông, T lấy đoạn kim loại khoảng 1,5m và R cầm đoạn tầm vong khoảng 01m rượt đuổi nhóm của Th trốn thoát, bỏ lại 03 xe mô tô. Tức giận, S quay lại cấm đoạn kim loại đập nhiều cái vào xe mô tô 67N1 -409.84 của B và xe mô tô 67N1-510.04 của N gây hư hỏng, rồi S đi về nhà. Sau đó, Công an xã C đến mời làm việc, S khai nhận hành vị đập 02 xe mô tô của B và N.
Đến ngày 30/3/2022, S bị khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú.
Vật chứng thu giữ:
- 01 xe mô tô 67N1 – 288.89 hiệu Honda, loại Future F1 màu xám xanh;
- 01 xe mô tô 67N1 – 409.84 hiệu Honda, loại Vision màu đen xám;
- 01 xe mô tô 67N1 - 510.04 hiệu Honda, loại Vario 150 màu cam nâu đen.
- 01 thanh kim loại hình tròn dài 55 cm, đường kính 4,5 cm, đầu hàn dính với miếng kim loại hình vuông kích thước (21 x 21) cm, dày 0,5 cm. Tổng trọng lượng 05 kg.
Tại bản kết luận định giá tài sản số: 03 ngày 10/3/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tri Tôn, kết luận:
- Xe mô tô 67N1 - 409.84 hiệu Honda, loại Vision màu đen xám bị hư hỏng các bộ phận được sửa và thay mới:
+ Cụm đèn chiếu sáng phía trước, trị giá 600.000 đồng;
+ Ốp nhựa đầu xe, trị giá: 230.000 đồng;
+ Mặt nạ xe, trị giá: 270.000 đồng;
+ Cụm đèn tín hiệu phía trước bên phải, trị giá: 230.000 đồng;
+ Cung chắn gió phía trước bên phải ngay vị trí đèn tín hiệu, trị giá: 230.000 đồng.
+ Cung chắn gió bên trái: Được sửa lại, không ảnh hưởng;
+ Ốp nhựa thân xe phía sau bên trái: Được sửa lại, không ảnh hưởng;
+ Cụm đèn báo hãm, đèn tín hiệu phía sau, trị giá: 600.000 đồng;
+ Ốp nhựa thân xe phía sau bên phải, trị giá: 580.000 đồng.
Tổng trị giá: 2.740.000 đồng.
- Xe mô tô 67N1 - 510.04 hiệu Honda, loại Vario 150, màu cam nâu đen bị hư hỏng các bộ phận được sửa và thay mới:
+ Cụm ốp nhựa đèn tín hiệu chiếu sáng phía trước bên trái, trị giá: 2.500.000 đồng;
+ Cung ốp nhựa bên phải đèn tín hiệu chiếu sáng phía trước, trị giá: 540.000 đồng
+ Cung chắn gió phía trước trái, trị giá: 170.000 đồng;
+ Ốp nhựa thân xe phía trước bên trái, trị giá: 540.000 đồng;
+ Đèn báo hãm phía sau gốc bên trái, trị giá: 1.550.000 đồng;
+ Cụm đèn tín hiệu phía sau bên trái, phải, trị giá 300.000 đồng;
+ Bộ phận cố định biển kiểm soát, trị giá: 150.000 đồng.
Tổng trị giá: 5.750.000 đồng.
Tại bản Cáo trạng số 19/CT-VKSTT-HS ngày 23 tháng 6 năm 2022, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn đã truy tố bị cáo Chau S về tội “cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự.
Tại Cơ quan điều tra, Chau S khai nhận: Do tức giận bị nhóm của Th ném ly thuỷ tinh nên S đập phá 02 xe mô tô loại Vision biển số 67N1-409.84 và Vario biển số 67N1-510.04, nhưng không có đập Xe Future. S không rủ rê và cũng không có ai tham gia đập phá xe cùng S.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Lời khai bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, người làm chứng: Lê N, Nguyễn B, Bùi Thi, Nguyễn V, Nguyễn L, Đào T, Trần Bo, Ngô M, Chau Th, Chau T, Chau R, cho biết như nội dung vụ án.
Các bị hại đã nhận lại xe mô tô và tiền bồi thường của bị cáo S, không yêu cầu gì thêm.
Bùi Thi cho biết: Xe mô tô Future biển số 67N1-288.79 bị hư hỏng nhẹ do trong lúc ném đá qua lại, không rõ do ai gây ra và cũng không có yêu cầu gì.
Kiểm sát viên, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng và trình bày lời luận tội: Giữa bị cáo và bị hại không quen biết nhau nhưng chỉ vì mâu thuẫn nhỏ hai bên đã xảy ra xung đột và chưa xảy ra hậu quả về người. Tuy vậy, bị cáo đã thực hiện hành vi đập phá xe của các bị hại dẫn đến hư hỏng. Nên Viện kiểm sát đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, h, i, s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Chau S từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm 03 (tháng) tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng đến 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng.
Về hình phạt bổ sung: Nhận thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận tiền bồi thường từ bị cáo, không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Vật chứng: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) thanh kim loại là vật chứng có trong hồ sơ vụ án mà bị cáo dùng làm công cụ thực hiện hành vi phạm tội, không có giá trị sử dụng (theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 12/7/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang).
Đối với Chau R, Chau T, Chau Th, Bùi Thi, Nguyễn B, Lê N và đối tượng Ch, Ph (đều chưa rõ họ, địa chỉ) có hành vi tụ tập ném đá, chai thủy tinh nhưng chưa gây hậu quả nên cơ quan điều tra chuyển xử lý hành chính là có căn cứ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an nhân dân huyện Tri Tôn, Điều tra viên; Viện Kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người bị hại: Nguyễn B; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bùi Thi, Nguyễn V, Đào T, Ngô M đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Xét thấy, những người trên đã có lời khai tại Cơ quan Điều tra và đã nhận lại tài sản, nên sự vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người nêu trên là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về tội danh:
Tại phiên tòa, bị cáo Chau S khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo cũng phù hợp với lời khai mà bị cáo đã khai nhận tại Cơ quan Điều tra và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Từ đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 19 giờ ngày 25 tháng 11 năm 2021, do nghĩ nhóm Lê N và Nguyễn B tìm đánh mình nên giữa bị cáo và bị hại đã xảy ra mâu thuẫn vì tức giận, nên bị cáo Chau S đã đập phá xe của các bị hại để lại tại khu vực hai bên mâu thuẫn, gây tổng thiệt hại 8.490.000 đồng. Do đó, hành vi của bị cáo Chau S đã phạm tội “cố ý làm hư hỏng tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự, như kết luận của Kiểm sát viên là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đánh giá tính chất, mức độ hành vi: Giữa bị cáo và các bị hại chưa từng quen biết nhau, chỉ vì hiểu lầm mà bị cáo gây ra hư hỏng tài sản. Hành vi phạm tội của bị cáo Chau S đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của bị hại, làm ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội tại địa phương. Cần phải áp dụng mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ thực hiện hành vi của bị cáo nhằm đảm bảo tính răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: Tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; gây thiệt hại không lớn; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo và đầu thú quy định tại điểm b, h, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn về áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ pháp luật.
Như vậy, căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, cũng như bị cáo có nhân thân tốt, nơi cư trú rõ ràng. Bên cạnh đó xét về hành vi phạm tội của bị cáo cũng xuất phát từ lỗi của các bị hại, đã cùng một nhóm người ngang nhiên tìm đến nhà của bị cáo để giải quyết mâu thuẫn cá nhân, nên Hội đồng xét xử xét thấy, chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, mà cho cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục và phòng ngừa chung, nên cần áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự khi áp dụng hình phạt đối với bị cáo là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Nhận thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng:
Đã giao trả 02 chiếc xe cho chủ sở hữu Lê N và Nguyễn B nên không đặt ra xem xét.
Về vật chứng của vụ án, Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 (một) thanh kim loại hình tròn dài 55 cm, đường kính 4,5 cm, đầu hàn dính với miếng kim loại hình vuông kích thước (21 x 21)cm, dày 0,5cm. Tổng trọng lượng 05 kg. Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy các vật chứng trên không có giá trị sử dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.
Đối với Chau R, Chau T, Chau Th, Bùi T, Nguyễn B, Lê N và đối tượng Ch, Ph (đều chưa rõ họ, địa chỉ) có hành vi tụ tập ném đá, chai thủy tinh nhưng chưa gây hậu quả nên cơ quan điều tra chuyển xử lý hành chính là có căn cứ.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự ; Điểm a khoản 1 Điều 23; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; bị cáo Chau S phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo Chau S, bị hại Nhân có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (19/7/2022), đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Chau S phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 178; điểm b, điểm h, điểm i, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017);
Xử phạt bị cáo: Chau S 09 (chín) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 01 (một) năm 06 (sáu) tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm 19/7/2022.
Giao bị cáo Chau S cho Ủy ban nhân dân xã C, huyện T, tỉnh An Giang giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về hình phạt bổ sung: Không.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại không yêu cầu gì, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) thanh kim loại hình tròn dài 55cm, đường kính 4,5 cm, đầu hàn dính với miếng kim loại hình vuông kích thước (21 x 21)cm, dày 0,5cm. Tổng trọng lượng 05 kg. (Tang vật do Chi cục thi hành án dân sự huyện Tri Tôn quản lý, theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 12/7/2022).
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Chau S phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào các Điều 331 và Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (19/7/2022). Nếu vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh An Giang; - VKS nhân dân tỉnh An Giang; - VKS huyện Tri Tôn; - Công an huyện Tri Tôn; - Phòng hồ sơ Công an tỉnh An Giang; - Chi cục THADS huyện Tri Tôn; - Sở Tư pháp; - UBND xã Châu Lăng; - Bị cáo; - Bị hại; - Người có QLNVLQ; - Lưu HS – VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Sơn Thị Thúy Liễu |