- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giàng A C - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẠM TẤU TỈNH YÊN BÁI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/HS-ST Ngày: 28-11-2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẠM TẤU, TỈNH YÊN BÁI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Vũ Đăng Quỳnh;
2. Bà Hảng Thị Dông.
Thư ký phiên toà: Ông Đinh Quang Hưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trạm Tấu tham gia phiên toà: Bà Hoàng Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 11 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trạm Tấu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 19/2022/TLST-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 11 năm 2022, đối với bị cáo:
Giàng A C, sinh ngày 13-7-1977 tại xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái; nơi cư trú bản T, xã N, huyện M, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn) không biết chữ; dân tộc Mông; giới tính nam; tôn giáo không; quốc tịch Việt Nam; con ông Giàng Nhà D (đã chết) và bà Chang Thị N; có vợ là Hảng Thị C và 03 con; tiền án, tiền sự không; nhân thân năm 2013 bị UBND huyện M đưa đi cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục và Lao động xã hội tỉnh Yên Bái, thời hạn 24 tháng. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12-7-2022; tạm giam từ ngày 15-7-2022; "Có mặt".
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Đinh Gia H - Trợ giúp viên pháp lý thuộc Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Yên Bái; "Có mặt".
+ Người phiên dịch tiếng Mông: Ông Mùa A L - Cán bộ Chi cục thi hành án dân sự huyện Trạm Tấu, tỉnh Yên Bái; “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ ngày 11-7-2022, Giàng A C điều khiển xe mô tô hướng từ thôn T đến thôn H, xã T; khi C đi đến địa phận thôn H thì gặp Công an xã T; Công an kiểm tra hành chính đối với C phát hiện bắt quả tang Giàng A C đang có hành vi tàng trữ 01 gói Heroine, được gói bằng mảnh nilon màu hồng, bên ngoài được gói bằng tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng; C kẹp gói Heroine vào khe giữa ngón chân cái và ngón chân trỏ của bàn chân phải. Mục đích C tàng trữ Heroine để sử dụng cho bản thân.
Tại bản kết luận giám định số: 398/KL-KTHS ngày 19-7-2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Yên Bái kết luận:
- Chất bột nén màu trắng thu giữ khi bắt quả tang Giàng A C có khối lượng là 0,47 (không phảy bốn mươi bảy gam) gam; 0,1 gam trích từ 0,47 gam chất bột nén màu trắng gửi giám định là ma túy; loại Heroine.
- Heroine nằm trong Danh mục I, STT: 9, Nghị định 73/2018/NĐ-CP ngày 15-5-2018 của Chính phủ.
Bản cáo trạng số: 18/CT-VKS-TT ngày 12 tháng 10 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Trạm Tấu đã truy tố bị cáo Giàng A C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi tàng trữ ma túy mình đã thực hiện; bị cáo đề nghị nhận lại điện thoại và xin được miễn án phí.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trạm Tấu thực hành quyền công tố, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A C từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng đến 01 (một) năm 09 ch n) tháng tù;
Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước 1.000 đồng.
Tịch thu tiêu hủy: 0,37 (không phảy ba bảy) gam Heroine còn lại sau khi lấy mẫu giám định; 02 (hai) vỏ phong bì thư đã mở niêm phong, nilon gói.
Trả lại cho bị cáo 01 chiếc điện thoại di động loại có bàn phím, nhãn hiệu Masstel, màu đỏ đen cũ qua sử dụng thu giữ của bị cáo. Đây là tài sản không liên quan đến tội phạm.
Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
- Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì.
- Người bào chữa trình bày lời bào chữa: Nhất trí với nội dung bản Cáo trạng và luận tội của Kiểm sát viên về tội danh và điều luật áp dụng đối với bị cáo. Người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, không được đi học, không thạo tiếp phổ thông, nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ ít, bị cáo tàng trữ là để sử dụng cho bản thân, không phát tán ra xã hội; gia đình thuộc diện hộ nghèo.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo từ 01 (một) năm đến 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù.
- Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Vật chứng: Trả lại bị cáo 01 điện thoại di động.
- Án phí: Miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận bổ sung gì, nhất trí với lời bào chữa của người bào chữa.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật; xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ, đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Trạm Tấu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Trạm Tấu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Người bào chữa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai tại phiên toà của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 22 giờ ngày 11-7-2022, tại thôn H, xã T, huyện T, tỉnh Yên Bái; Giàng A C đã có hành vi tàng trữ 01 gói ma tuý, loại Heroine có khối lượng 0,47 gam, được gói bằng mảnh nilon màu hồng bên ngoài được gói bằng một tờ tiền mệnh giá 1.000 đồng, kẹp vào khe giữa ngón chân cái và ngón chân trỏ của bàn chân phải. Mục đích bị cáo tàng trữ để sử dụng.
Bị cáo Giàng A C là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự; bị cáo nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép ma túy (Heroine) là vi phạm pháp luật hình sự và biết được tác hại của ma túy đối với sức khỏe con người và đời sống xã hội. Bị cáo cố ý thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng ma túy trái pháp luật của bản thân. Khối lượng ma tuý bị cáo tàng trữ đã đủ yếu tố cấu thành tội phạm.
Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy mà bị cáo thực hiện đã xâm phạm trực tiếp đến chính sách phòng, chống và kiểm soát ma túy của Nhà nước; tiếp tay cho tệ nạn ma túy gia tăng; ảnh hưởng đến sức khỏe con người; là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác và xâm hại trật tự an toàn xã hội.
Từ những căn cứ trên đã có đủ căn cứ để khẳng định hành vi của bị cáo Giàng A C thực hiện đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Nhân thân: Bị cáo Giàng A C là người nghiện ma tuý, đã được đưa đi cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong lại tái nghiện. Nên xác định bị cáo là người có nhân thân xấu tại địa phương.
Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tội phạm mà bị cáo C thực hiện là nghiêm trọng, có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội là lớn; cùng với nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo như đã phân tích ở trên, cần áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để bị cáo có thời gian cai nghiện và giáo dục riêng bị cáo, đồng thời răn đe và phòng ngừa chung.
Hình phạt bổ sung: Bị cáo là người không có việc làm ổn định, thu nhập thấp, là người nghiện, không có tài sản có giá trị, gia đình bị cáo thuộc diện hộ nghèo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Vật chứng:
- Đối với 0,37 gam Heroine còn lại sau khi lấy mẫu giám định. Đây là vật cấm tàng trữ, lưu hành, nên cần tiêu hủy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 1.000 đồng bị cáo đã sử dụng để gói ma tuý, nên cần tịch thu nộp vào ngân sách nhà nước, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 02 vỏ phong bì đã mở niêm phong và nilon gói; 02 vỏ phong bì cơ quan Công an sử dụng để niêm phong vật chứng, xét không có giá trị, nên cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; nilon gói bị cáo đã sử dụng để tàng trữ ma túy, nên cần tịch thu tiêu hủy, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đối với 01 chiếc điện thoại di động loại có bàn phím, nhãn hiệu Masstel, màu đỏ đen cũ qua sử dụng thu giữ của bị cáo. Đây là tài sản không liên quan đến tội phạm, nên trả lại cho bị cáo theo quy định tại điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Án phí và các vấn đề khác:
Bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc diện hộ nghèo, bị cáo đề nghị được miễn án phí. Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí cho bị cáo.
Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Đối với người đàn ông bị cáo khai là người đã bán ma tuý cho bị cáo, Cơ quan điều tra không xác minh được, nên không có căn cứ để xử lý.
Đối với chiếc xe Mô tô bị cáo sử dụng để đi là xe bị cáo mượn của Lý A C cơ quan Công an đã trả lại cho Lý A C là phù phù hợp, nên cần được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Giàng A C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Điều luật áp dụng và hình phạt:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Giàng A C 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ bị cáo, là ngày 12-7-2022.
3. Vật chứng: Áp dụng điểm a, điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, điểm c khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Tịch thu tiêu hủy: 0,37 (không phảy ba bảy) gam Heroine, đã được niêm phong; 02 (hai) vỏ phong bì thư đã mở niêm phong, nilon gói.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 1.000 một ngh n đồng.
- Trả lại cho bị cáo Giàng A C 01 chiếc điện thoại di dộng loại có bàn phím, nhãn hiệu Masstel, màu đỏ đen đã cũ qua sử dụng.
đặc điểm của vật chứng và tài sản như mô tả tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 17-10-2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Trạm Tấu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trạm Tấu)
4. Án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 6 Điều 15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Giàng A C.
5. Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo Giàng A C có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Yên Bái; - VKSND tỉnh Yên Bái; - VKSND huyện Trạm Tấu; - Công an huyện Trạm Tấu; - Bị cáo; người bào chữa cho bị cáo; - Chi cục Thuế Nghĩa Văn- Trạm Tấu; - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái; - Chi cục Hải quan tỉnh Yên Bái; - UBND xã N, huyện M (TB); - Lưu hs, TA, THA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Vũ Xuân |