- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật hìn…"
- Căn cứ chính? Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/HS-ST Ngày: 27 - 5 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Đỗ Quốc Huy.
Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Trí Dũng và ông Lê Văn Vân.
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Thành Trung - Thẩm tra viên Toà án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Hoàng Mạnh Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2022/TLST-HS ngày 08 tháng 4 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 5 năm 2022, đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Văn H, sinh năm 1991 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn 3 C, xã B, huyện B, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đức C và bà Trần Thị T; có vợ là Trần Thị Th và có 01 con sinh năm 2016; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 16/12/2021, chuyển tạm giam từ ngày 25/12/2021 đến nay; có mặt.
2. Đào Văn Tr, sinh năm 1996 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn Ô, xã Tr, huyện B, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đào Văn D và bà Phạm Thị H; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2021, chuyển tạm giam từ ngày 25/12/2021 đến nay; có mặt.
3. Đỗ Văn T, sinh năm 1997 tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn 2, xã Ch, huyện L, tỉnh H; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn T (đã chết) và bà Nguyễn Thị L; vợ, con: Chưa; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 25/02/2014 bị Công an huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.250.000 đồng về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác”. (Đã chấp hành xong nghĩa vụ nộp phạt); bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/12/2021, chuyển tạm giam từ ngày 25/12/2021 đến nay; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Anh Nguyễn Văn Kh, sinh năm 1996; nơi cư trú: Thôn 2 C, xã B, huyện B, tỉnh H; vắng mặt.
+ Ông Lê Văn Th, sinh năm 1953; nơi cư trú: Thôn 1 C, xã B, huyện B, tỉnh H; vắng mặt.
+ Anh Lê Văn T, sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn 1 C, xã B, huyện B, tỉnh H; vắng mặt.
- Người làm chứng: Ông Trần Văn C và anh Nguyễn Đức Th; đều vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 16/12/2021, Đào Văn Tr liên hệ bằng điện thoại rủ Đỗ Văn T đi mua ma tuý về cùng sử dụng. T đồng ý và điều khiển xe môtô biển kiểm soát 90B3-190.75 đến nhà Đào Văn Tr ở thôn Ô, xã Tr, huyện B, tỉnh H để đón Tr. T điều khiển xe môtô chở Tr đi mua ma túy, trên đường đi T đưa cho Tr 400.000 đồng, Tr cầm tiền và nói “thằng Kh góp 200.000 đồng, tổng được 800.000 đồng”. Khi đến nhà X (thường gọi là X M) ở thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh H, Tr một mình đi vào nhà X để mua ma túy nhưng không mua được, cả hai quay xe đi về. Khi về cách nhà X khoảng 100m thì gặp Nguyễn Văn H đang điều khiển xe môtô biển kiểm soát 90H2-3578 đi ngược chiều, Tr và T đều nói với H: “Anh mua hộ bọn em tám trăm”, đồng thời Tr đưa H 800.000 đồng, H hiểu ý Tr và T nhờ mua hộ 800.000 đồng tiền ma túy, loại Heroine nên đồng ý. Lúc này, H cũng đang cầm trên tay 02 gói ma túy loại Heroine vừa mua được để sử dụng cho bản thân với giá 400.000 đồng nên H đưa luôn 02 gói ma túy này cho Tr và nói “Cầm hai cái trước, ra rặng nhãn đợi, tí anh ra luôn”. Tr cầm 02 gói ma túy H đưa trên tay phải lên ngồi sau xe T điều khiển đi về rặng nhãn thuộc thôn Hội Đông, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân đợi. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi T chở Tr đi đến thôn Hội Động, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân thì bị Tổ công tác của Công an huyện Lý Nhân phối hợp với Công an xã Đức Lý yêu cầu dừng xe kiểm tra. Thấy vậy Tr liền ném đoạn ống nhựa, bên trong có 02 gói ma túy đang cầm trên tay phải xuống đường và bỏ trốn, còn T bị bắt giữ. Tổ công tác đã thu giữ 02 gói ma túy mà Tr vừa vứt xuống đường. Tại chỗ, T khai nhận đây là 02 gói Heroine, Tr và T vừa góp tiền mua về sử dụng. Tổ công tác đã lập biên bản vụ việc, thu giữ, niêm phong 02 gói ma túy nêu trên phong bì ký hiệu VV01, đồng thời tạm giữ của T 01 xe môtô biển kiểm soát 90B3-190.75 và 01 điện thoại iPhone.
Đối với Nguyễn Văn H, sau khi đưa 02 gói ma túy cho Đào Văn Tr; H tiếp tục đi mua ma túy để sử dụng và để trả Tr 02 gói còn thiếu. Trên đường đi, H lấy 10.000 đồng trong số tiền 800.000 đồng Tr đưa mua 01 hộp bánh và ăn hết. Số tiền 790.000 đồng còn lại, H mua được 04 gói ma túy, loại Heroine (có đặc điểm giống 02 gói ma túy đã đưa cho Tr trước đó). H cất 02 gói của mình trong túi áo khoác để sử dụng cho bản thân, còn 02 gói mua hộ cho Tr thì H cầm trên tay trái. Khoảng 13 giờ 10 phút cùng ngày, trên đường đến điểm hẹn để đưa 02 gói ma túy cho Tr nhờ mua hộ, khi H điều khiển xe môtô đến khu vực đường bê tông thuộc thôn Hội Động, xã Đức Lý thì bị Tổ công tác của Công an huyện Lý Nhân phát hiện, bắt quả tang về hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trong lòng bàn tay trái của Nguyễn Văn H đang cầm 02 đoạn ống nhựa; thu trong túi áo khoác H đang mặc 02 đoạn ống nhựa. Cả 04 đoạn ống nhựa đều có màu vàng, được hàn kín hai đầu, kích thước khoảng 2,5cm, mở ra bên trong có chất bột dạng cục màu trắng, sau đó hàn kín lại như ban đầu, lần lượt niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01, QT02. Tại chỗ, H khai nhận chất bột màu trắng bên trong 04 đoạn ống nhựa là ma túy, loại Heroine. Tổ công tác còn tạm giữ của H 01 xe môtô biển kiểm soát 90H2-3578 và 01 điện thoại NOKIA cũ, màu đen.
Ngày 17/12/2021, Đào Văn Tr đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lý Nhân đầu thú và giao nộp 01 điện thoại Vivo.
Khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Nguyễn Văn H tại thôn 3 C, xã B, huyện B, Đào Văn Tr tại thôn Ô, xã Tr, huyện B và Đỗ Văn T tại thôn 2, xã Ch, huyện L không phát hiện thu giữ đồ vật, tài liệu gì có liên quan. Ông Đào Văn D (là bố đẻ của Đào Văn Tr) đã tự nguyện giao nộp: 01 chiếc quần bò và 01 áo giả da của Tr.
Tại bản Kết luận giám định số 245/PC09-MT và 246/PC09-MT cùng ngày 21/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, kết luận:
“Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,175g (Không phẩy một trăm bảy mươi lăm gam), loại: Heroine;
Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT02 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,136g (Không phẩy một trăm ba mươi sáu gam), loại: Heroine;
Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu VV01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,230g (Không phẩy hai trăm ba mươi gam), loại: Heroine”.
Về nguồn gốc số ma túy, Nguyễn Văn H khai nhận: Toàn bộ số ma túy nêu trên H đều mua tại nhà của đối tượng có tên X ở thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh H để sử dụng cho bản thân và mua hộ cho Tr và T sau đó bị bắt quả tang.
Tại bản cáo trạng số 19/CT-VKSLN ngày 07/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố Nguyễn Văn H về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự; Đào Văn Tr và Đỗ Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự
Tại phiên tòa:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 07 năm đến 08 năm tù.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Văn Tr và Đỗ Văn T; Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Đào Văn Tr. Xử phạt bị cáo Đào Văn Tr và Đỗ Văn T mỗi bị cáo từ 30 đến 36 tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo; xử lý vật chứng và án phí vụ án.
- Các bị cáo Nguyễn Văn H, Đào Văn Tr và Đỗ Văn T khai nhận hành vi của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý nhân đã truy tố; các bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa hay khiếu nại gì và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Quá trình điều tra cũng như tại phiên toà các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Về tội danh: Lời khai của các bị cáo Nguyễn Văn H, Đào Văn Tr và Đỗ Văn T tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản bắt giữ người có hành vi phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và phù hợp với vật chứng thu được cùng các tài liệu có trong hồ sơ vụ án.
Do đó đủ cơ sở kết luận: Đào Văn Tr và Đỗ Văn T là các đối tượng nghiện ma tuý. Ngày 16/12/2021, Đào Văn Tr liên hệ bằng điện thoại rủ Đỗ Văn T đi mua ma túy về sử dụng. T điều khiển xe mô tô chở Tr đi mua ma túy và góp với Tr 400.000 đồng. Tr, T gặp Nguyễn Văn H tại thôn Hội Động, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, cả hai nhờ H mua hộ 800.000 đồng tiền ma túy. H đồng ý và đưa luôn 02 gói ma túy, loại Heroine có khối lượng 0,230g H vừa mua được đang cầm trên tay cho Tr và bảo Tr, T đi về rặng nhãn ở thôn Hội Động, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đợi H đi mua hộ hai gói ma tuý còn lại. Khoảng 13 giờ cùng ngày, khi Tr đang cầm 02 gói ma túy cùng với T đi về đến thôn Hội Động, xã Đức Lý thì bị Tổ công tác Công an huyện Lý Nhân phát hiện bắt quả tang.
Nguyễn Văn H không có mục đích mua bán trái phép chất ma túy, không có mục đích thu lợi bất chính, H mua hộ ma túy cho Tr và T. H đã mua thêm 04 gói ma túy, loại Heroine với giá 790.000 đồng, trong đó 02 gói ma túy có khối lượng 0,175g H cầm trong lòng bàn tay trái để đưa cho Tr và T, còn 02 gói ma túy có khối lượng 0,136g H cất trong túi áo khoác để sử dụng cho bản thân. Khoảng 13 giờ 10 phút, cùng ngày 16/12/2021 trên đường mang ma túy mua hộ đến đưa cho Tr và T tại khu vực đường bê tông thuộc thôn Hội Động, xã Đức Lý thì bị Tổ công tác Công an huyện Lý Nhân phối hợp với Công an xã Đức Lý phát hiện, bắt quả tang.
Trong vụ án này, Nguyễn Văn H phải chịu trách nhiệm hình sự về tổng khối lượng 06 gói Heroine nêu trên là 0,541g (Không phảy năm trăm bốn mươi mốt gam), trong đó một lần tàng trữ có khối lượng 0,230g và một lần tàng trữ có khối lượng là 0,311g.
Đào Văn Tr và Đỗ Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự về khối lượng 04 gói Heroine đã nhờ Nguyễn Văn H mua hộ, gồm 02 gói Hiệp đã đưa cho Trung và 02 gói H chưa kịp đưa với tổng khối lượng là 0,405g (Không phảy bốn trăm linh năm gam).
Hành vi nêu trên của Nguyễn Văn H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự. Hành vi của Đào Văn Tr và Đỗ Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Quan điểm kết tội của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đối với bị cáo đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Văn H, Đào Văn Tr và Đỗ Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự địa phương gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Vì vậy cần phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có thể cải tạo được các bị cáo, đồng thời có tác dụng phòng ngừa tội phạm chung.
Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án có nhiều bị cáo cùng tham gia, tuy nhiên các bị cáo không phân công vai trò, vị trí, trách nhiệm cụ thể nên xác định đây là vụ án có đồng phạm giản đơn. Xét vai trò của các bị cáo trong vụ án thấy: Bị cáo Nguyễn Văn H bị truy tố về hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, với tình tiết định khung “Phạm tội 2 lần trở lên” nên bị cáo H giữ vai trò thứ nhất. Các bị cáo Đào Văn Tr, Đỗ Văn T cùng thực hiện hành vi tàng trữ ma tuý với tính chất, mức độ ngang nhau nên cùng giữ vai trò đồng phạm trong vụ án.
- Về nhân thân: Các bị cáo Nguyễn Văn H và Đào Văn Tr có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Đỗ Văn T có nhân thân xấu, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại đến sức khỏe của người khác” đã được xoá, nhưng T không lấy đó làm bài học để tu dưỡng bản thân mà tiếp tục thực hiện tội phạm, nên cần xem xét yếu tố nhân thân khi lượng hình phạt đối với bị cáo T.
- Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo Nguyễn Văn H, Đào Văn Tr và Đỗ Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
- Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo nên đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn H đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự và có đơn trình bày gia đình có hoàn cảnh khó khăn, có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cáo Đào Văn Tr, sau khi phạm tội đã ra đầu thú nên bị cáo H, Tr được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo phạm tội không nhằm mục đích thu lợi nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về xử lý vật chứng:
- 02 phong bì niêm phong số 245/PC09-MT của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, lần lượt ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01”, “Mẫu vật hoàn trả QT02”; 01 phong bì niêm phong số 246/PC09-MT của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, ghi “mẫu vật hoàn trả VV01” đều là chất ma tuý là vật cấm tàng trữ nên tịch thu và tiêu huỷ.
- 01 điện thoại di động đen trắng, nhãn hiệu Nokia, vỏ ngoài màu đen thu giữ của Nguyễn Văn H, không liên quan đến tội phạm nên xem xét trả lại cho bị cáo.
- 01 điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO, vỏ ngoài màu xanh; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, vỏ ngoài màu bạc thu giữ của Đào Văn Tr và Đỗ Văn T. Tại phiên toà các bị cáo khai nhận đã sử dụng hai chiếc điện thoại trên để liên lạc với nhau đi ma tuý sử dụng, vì vậy cần tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 chiếc quần bò dài nam; 01 áo giả da màu đỏ thu giữ tại nhà Đào Văn Tr. Bộ quần áo trên đều đã cũ không còn giá trị sử dụng, bị cáo Tr đề nghị không nhận lại nên tịch thu và tiêu huỷ.
- 01 xe mô tô Wave RS nhãn hiệu Honda biển kiểm soát 90H2-3578 tạm giữ của Nguyễn Văn H. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông Lê Văn Th, ông Th cho con trai là anh Lê Văn T quản lý, sử dụng. Anh T cho H mượn xe nhưng không biết H đi mua ma túy nên trả lại chiếc xe trên cho anh T là phù hợp.
Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Các vấn đề khác: Căn cứ lời khai của Nguyễn Văn H, cơ quan điều tra đã xác minh tại thôn Hội Động, xã Đức Lý, huyện Lý Nhân xác định có người tên Hồ Văn X, sinh năm 1978 con bà Lương Thị M. Tuy nhiên, X không có mặt tại địa phương, gia đình và chính quyền địa phương không biết X đi đâu, làm gì nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
- Đối với Nguyễn Văn Kh, theo lời khai của Đào Văn Tr ngày 16/12/2021 thì Kh đưa cho Tr 200.000 đồng để nhờ Tr mua hộ ma tuý, tại cơ quan điều tra Kh không thừa nhận đưa tiền cho Tr. Ngoài lời khai của Tr không còn tài liệu nào khác nên không có căn cứ để xử lý đối với Kh trong vụ án.
- Đối với chiếc xe môtô biển kiểm soát 90B3-190.75 tạm giữ của Đỗ Văn T. Theo T khai nhận chiếc xe mô tô trên mượn của người bạn có tên là C ở huyện Bình Lục. Quá trình điều tra, xác minh chưa xác định được chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe mô tô này, cơ quan CSĐT Công an huyện Lý Nhân đã tách ra để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự:
- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn H.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Đào Văn Tr, Đỗ Văn T. Áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với Đào Văn Tr.
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Văn H, Đào Văn Tr và Đỗ Văn T phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 07 (Bảy) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/12/2021.
- Xử phạt bị cáo Đào Văn Tr 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2021.
- Xử phạt bị cáo Đỗ Văn T 36 (Ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 17/12/2021.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu và tiêu huỷ: 02 phong bì niêm phong số 245/PC09-MT, lần lượt ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01, QT02”; 01 phong bì niêm phong số 246/PC09-MT của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam, ghi “mẫu vật hoàn trả VV01”; 01 chiếc quần bò dài nam đã cũ; 01 áo giả da màu đỏ, phía trước ngực bên trái có hình màu trắng.
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động, nhãn hiệu VIVO, vỏ ngoài màu xanh đã cũ, màn hình bị vỡ; 01 điện thoại di động, nhãn hiệu Iphone, vỏ ngoài màu bạc đã cũ.
- Trả lại Nguyễn Văn H 01 điện thoại di động đen trắng, nhãn hiệu Nokia, vỏ ngoài màu đen đã cũ, nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án dân sự.
- Trả lại anh Lê Văn T 01 xe môtô Wave RS nhãn hiệu Honda, vỏ ngoài màu đỏ, đeo biển kiểm soát 90H2-3578, số khung: RLHHC 09086Y587782, số máy HC09E-6587841.
(Các vật chứng nêu trên có đặc điểm, tình trạng, số hiệu được ghi trong biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 08/4/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Lý Nhân và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lý Nhân).
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/1016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:.
Các bị cáo Nguyễn Văn H, Đào Văn Tr và Đỗ Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt phiên toà được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định của các Điều 6,7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Hà Nam; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - VKSND huyện Lý Nhân; - Cơ quan CSĐT, Cơ quan THA hình sự - Công an huyện Lý Nhân; - Chi cục THADS huyện Lý Nhân; - Bị cáo; Đương sự; - Lưu: Hồ sơ + Văn phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đỗ Quốc Huy |