vanban.org

Bản án 20/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình Tuyên án 29/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Nguyễn B, bị cáo Phạm Tiến D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chất tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 2,9459 gam là ma túy loại ketamine; chất bột màu xanh được nghiền ra từ các viên nén hình vuông, màu xanh và một viên nén hình vuông, màu xanh còn l… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Nguyễn B, Phạm Tiến D - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Nguyễn B, bị cáo Phạm Tiến D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HOA LƯ
TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2022/HS-ST
Ngày 29-7-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Luận

Bà Nguyễn Thị Minh Yến

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Huy Hiệp- Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Nguyễn Thị Bích Huê- Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 20/2022/TLST-HS ngày 27/6/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2022/QĐXXST-HS ngày 18/7/2022 đối với bị cáo:

1. Đỗ Nguyễn B, sinh ngày: 19/3/2003, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: phố 4, thị trấn Y, huyện K, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Nguyễn Q và bà Phạm Thị L; vợ, con: chưa có; tiền án: không; tiền sự: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 64/QĐ-XPHC ngày 18/6/2021 của Công an huyện Yên Khánh, tỉnh Ninh Bình phạt tiền 2.500.000 đồng về hành vi xâm hại đến sức khỏe của người khác (chấp hành xong ngày 28/6/2021), Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 04/QĐ-XPHC ngày 31/01/2022 của UBND xã Khánh Hòa, huyện Yên Khánh phạt tiền 3.000.000 đồng về hành vi xâm phạm sức khỏe người khác (chưa chấp hành); Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/02/2022 đến ngày 11/02/2022 chuyển tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay, có mặt.

2. Phạm Tiến D, sinh ngày 18/9/2002, tại tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm Đ, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn V và bà Vũ Thị T; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07/02/2022 đến ngày 11/02/2022 chuyển tạm giam tại Trại Tạm giam Công an tỉnh Ninh Bình cho đến nay, có mặt.

Người làm chứng: 1. Ông Trần Văn Tr. Vắng mặt.

2. Chị Võ Hồng Ngọc B. Vắng mặt.

3. Bà Đỗ Thị L. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 21 giờ 20 phút, ngày 07/02/2022, tại phòng 203, nhà nghỉ Th ở phố M, huyện H, tỉnh Ninh Bình, tổ công tác Công an huyện Hoa Lư đã yêu cầu kiểm tra đối với 02 khách thuê phòng là bị cáo Đỗ Nguyễn B và bị cáo Phạm Tiến D. B đã tự giác lấy từ túi quần bên phải đang mặc ra 01 gói nhỏ được gói bằng khẩu trang màu xanh bên trong có 05 viên nén hình vuông, màu xanh, 01 túi nilon màu trắng trong, viền miệng túi màu đỏ, bên trong chứa 15 viên nén hình vuông, màu xanh và 01 túi nilon màu trắng trong, bên trong chứa chất tinh thể màu trắng giao nộp cho tổ công tác. B và D khai nhận bên trong các túi nilon là ma tuý kẹo (viên nén hình vuông, màu xanh) và Ketamin (chất tinh thể màu trắng).

Trước đó, khoảng 19 giờ 30 phút, ngày 07/02/2022, D đã sử dụng điện thoại Iphon 7 màu đen lắp sim 0983026135 của mình gọi vào số điện thoại 0913536016 của B rủ đi mua ma túy về sử dụng chung. Cả hai thống nhất mua 15 viên ma túy kẹo (MDMA) và 04 chỉ ma tuý ke (Ketamine), B bỏ tiền ra thanh toán trước, hết bao nhiêu tiền sẽ chia đôi mỗi người chịu một nửa. Sau đó, B thuê taxi của một người không quen biết đến đón D. Khi đi, B mang theo 01 thiết bị hình hộp chữ nhật có chữ “WY7899” màu đen, 01 đèn có chữ “ROHSCEFC” và “model: AC6923 made in China”, 01 loa cầm tay có chữ “harman/kardon”, 02 cục xạc và 01 dây cắm điện bỏ trong một túi xách có quai màu xanh để vào cốp của xe taxi. B và D thuê taxi đi đến khu vực ngã tư Hoa Đô để tìm mua ma tuý. Đến nơi, D ngồi trong xe taxi đợi, còn B xuống xe đi bộ về phía cầu Non Nước, cách ngã tư Hoa Đô khoảng 50 m thì thấy một chiếc xe ô tô màu đen không rõ biển kiểm soát đang đỗ ở đầu một ngõ nhỏ. Báu lại gần hỏi mua của một người đàn ông được 20 viên “kẹo” đựng trong 01 túi nilon và 04 chỉ ke có dạng chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon với giá 500.000 đồng một viên kẹo, 1.250.000 đồng một chỉ ke, tất cả hết 15.000.000 đồng. B lấy ra 05 viên kẹo bỏ vào 01 khẩu trang y tế màu xanh gói lại cất vào túi quần để sử dụng riêng, còn lại 15 viên ma tuý kẹo và 04 chỉ ke trong 02 túi nilon B bỏ cả vào túi quần đang mặc và đi ra lên xe tacxi mà D đang đợi. Lên xe, B lấy ra 02 túi đựng 15 viên ma tuý kẹo và 04 chỉ ma tuý ke đưa cho D xem và nói “hết tất cả 12.500.000 đồng, mỗi thằng 6.250.000 đồng”. D xem xong đưa lại cho B cất vào túi quần bên phải phía trước đang mặc. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, cả hai đến nhà nghỉ Th thuộc phố M, thị trấn , huyện H do anh Trần Văn Tr làm chủ. D vào thuê phòng nghỉ 203. Còn B xách túi màu xanh đựng loa, đèn, cục xạc, dây cắm mang từ nhà vào phòng 203. B và D chưa kịp sử dụng ma túy thì bị tổ công tác Công an huyện Hoa Lư yêu cầu kiểm tra.

Tổ công tác cũng đã tiến hành thu giữ của Báu 01 túi xách màu xanh bên trong có: 01 thiết bị điện tử hình hộp chữ nhật có chữ WY7899 màu đen, 01 đèn có chữ “ ROHSC FC và “model: AC6923 made in china”, 01 loa cầm tay có chữ “harman/kardon”, 02 cục xạc, 01 dây cắm điện, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen lắp sim số 0913536016; thu giữ của Phạm Tiến D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 7 màu đen, lắp sim số 0983026135.

Tại bản kết luận giám định số 175/KLGĐ-PC09 - MT ngày 10/02/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Ninh Bình kết luận: Chất dạng tinh thể màu trắng gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 3,0291 gam, là ma túy, loại Ketamine. Mẫu ký hiệu M2 gửi giám định gồm 15 viên nén hình vuông, màu xanh có khối lượng 6,4780 gam. Mẫu ký hiệu M3 gửi giám định gồm 05 viên nén hình vuông, màu xanh, có khối lượng 2,1822 gam. Các mẫu gửi giám định ký hiệu M2, M3 đều là ma túy loại MDMA.

Vật chứng, tài sản thu giữ trong của vụ án hiện đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoa Lư gồm: 01 phong bì niêm phong (mẫu vật hoàn trả sau giám định) bên trong có chất tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 2,9459 gam ketamine; chất bột màu xanh được nghiền ra từ các viên nén hình vuông, màu xanh và một viên nén hình vuông, màu xanh còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M2 có khối lượng 6,3836 gam MDMA; chất bột màu xanh được nghiền ra từ các viên nén hình vuông, màu xanh và một viên nén hình vuông, màu xanh còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M3 có khối lượng 2,0776 gam MDMA cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong. 01 phong bì niêm phong bên trong có 02 túi nilon, 01 khẩu trang, phong bì niêm phong ban đầu. 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen thu giữ của Đỗ Nguyễn B; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 7 màu đen thu giữ của Phạm Tiến D; 01 thiết bị điện tử hình hộp chữ nhật có chữ “WY7899” màu đen; 01 đèn có chữ “ ROHSC FC và “model: AC6923 made in China”; 01 loa cầm tay có chữ “harman/kardon”, 02 cục xạc, 01 dây cắm điện, 01 túi xách màu xanh thu của Đỗ Nguyễn B.

Bản cáo trạng số 20/CT-VKSHL ngày 25/6/2022, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố các bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự (BLHS). Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo Đỗ Nguyễn B từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ. Áp dụng điểm n khoản 2 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, xử phạt bị cáo Phạm Tiến D từ 05 năm 06 tháng đến 06 năm tù, thời hạn tính từ ngày tạm giữ. Áp dụng Điều 47 của BLHS, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự (BLTTHS), tịch thu sung quỹ Nhà nước 02 điện thoại thu giữ của các bị cáo; trả lại các thiết bị điện tử khác, 01 túi xách đã thu giữ cho bị cáo Báu và tịch thu tiêu hủy các vật chứng còn lại.

Tại phiên tòa, các bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi nêu trên, không tranh luận với luận tội của đại diện Viện Kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử cho các bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tội danh: Các bị cáo đều đã thành niên, nhận thức rõ việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa thể hiện các bị cáo có hành vi cùng nhau mua ma túy loại MDMA và Ketamine, cất giấu nhằm mục đích sử dụng cho bản thân. Trong đó, Đỗ Nguyễn B cất giấu trái phép trong người 8,6602 gam ma túy loại MDMA và 3,0291 gam ma túy loại Ketamine. Phạm Tiến D góp tiền với Đỗ Nguyễn B mua chung 6,4780 gam ma túy loại MDMA và 3,0291 gam ma túy loại Ketamine. Hành vi của các bị cáo đã phạm vào tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm n khoản 2 Điều 249 của BLHS. Cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư truy tố các bị cáo là đúng pháp luật.

Điều 249 Tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

...

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 10 năm:

a)...

g) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam;

...

l) các chất ma tuý khác ở thể rắn có khối lượng từ 20 gam đến dưới 100 gam;

…

n) Có 02 chất ma tuý trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm e đến điểm m khoản này;

…”

Về vị trí, vai trò của từng bị cáo: Các bị cáo là đồng phạm với nhau đối với hành vi cất giấu 15 viên MDMA có trọng lượng 6,4780 gam và 3,0291 gam Ketamine. Trong đó, bị cáo Dũng là người khởi xướng, bị cáo Báu là người trực tiếp bỏ tiền mua ma tuý, cất giấu ma tuý nên 2 bị cáo có vai trò ngang nhau trong việc thực hiện hành vi phạm tội.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Báu hiện có 02 tiền sự do bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi xâm phạm sức khỏe của người khác. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Khi bị yêu cầu kiểm tra, bị cáo Báu đã tự giác giao nộp số ma tuý vừa mua. Do vậy, các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS, áp dụng thêm khoản 2 Điều 51 của BLHS đối với bị cáo Báu.

Về hình phạt: Hành vi của các bị cáo đã xâm phạm vào chế độ quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy, gây ảnh hưởng không tốt đến tình hình trật tự trị an tại địa phương. Để giáo dục, cải tạo các bị cáo thành công dân biết tuân thủ pháp luật cần áp dụng hình phạt tù đối với các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian tương xứng. Ngoài việc đồng phạm với bị cáo D về số ma tuý thống nhất mua chung, bị cáo B còn phải chịu trách nhiệm đối với số lượng ma tuý MDMA mua thêm là 2,1888 gam. Do đó, bị cáo B phải chịu mức hình phạt cao hơn so với bị cáo D.

Về các tài sản, vật chứng thu giữ của các bị cáo: 02 điện thoại thu giữ của các bị cáo dùng là công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước. 01 thiết bị điện tử hình hộp chữ nhật có chữ “WY7899” màu đen; 01 đèn có chữ “ ROHSC FC và “model: AC6923 made in China”, 01 loa cầm tay có chữ “harman/kardon”, 02 cục xạc, 01 dây cắm điện, 01 túi xách bị cáo Báu mang theo chưa sử dụng, không liên quan đến hành vi phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo Báu. Số ma túy hoàn lại sau giám định, vỏ bao gói niêm phong, khẩu trang là những vật cấm tàng trữ, lưu hành và vật không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hoa Lư, điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của BLTTHS. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nguồn gốc ma túy: Các bị cáo khai không không biết tên, tuổi, địa chỉ người bán ma tuý nên không đủ căn cứ để điều tra làm rõ.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố: Bị cáo Đỗ Nguyễn B, bị cáo Phạm Tiến D phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Đỗ Nguyễn B 06 (sáu) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (07/2/2022).

Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Tiến D 05 (năm) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (07/2/2022).

2. Xử lý vật chứng:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 47 của BLHS; điểm a, c khoản 2, 3 Điều 106 của BLTTHS

Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong bên trong có chất tinh thể màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M1 có khối lượng 2,9459 gam là ma túy loại ketamine; chất bột màu xanh được nghiền ra từ các viên nén hình vuông, màu xanh và một viên nén hình vuông, màu xanh còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M2 có khối lượng 6,3836 gam là ma túy loại MDMA; chất bột màu xanh được nghiền ra từ các viên nén hình vuông, màu xanh và một viên nén hình vuông, màu xanh còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M3 có khối lượng 2,0776 gam, là ma túy loại MDMA cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì niêm phong bên trong có 02 túi nilon, 01 khẩu trang, vỏ phong bì niêm phong ban đầu;

Tịch thu sung quỹ Nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen thu giữ của Đỗ Nguyễn B, 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphon 7 màu đen thu giữ của Phạm Tiến D;

Trả lại cho bị cáo Đỗ Nguyễn B 01 thiết bị điện tử hình hộp chữ nhật có chữ “WY7899” màu đen, 01 đèn có chữ “ ROHSC FC và “model: AC6923 made in China”, 01 loa cầm tay có chữ “harman/kardon”, 02 cục xạc, 01 dây cắm điện, 01 túi xách màu xanh.

Những tài sản, vật chứng này đều đang được quản lý tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/6/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Hoa Lư và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hoa Lư.

3. Án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của BLTTHS, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, buộc mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ