- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN VĂN T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/HS-ST Ngày 31 - 3 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẢI HẬU, TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hằng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đỗ Việt Hùng;
Ông Nguyễn Văn Hóa.
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Huê - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 3 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 18/2022/TLST-HS ngày 16 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2022/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 3 năm 2022 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn T, sinh năm 1993 tại xã Hải T, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm 6, xã Hải T, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Nhượng, sinh năm 1965 và bà Chu Thị Phú, sinh năm 1965 hiện ở xóm 6, xã Hải T, huyện Hải Hậu; gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ hai; vợ, con: chưa có; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2021 đến ngày 27/12/2021 chuyển tạm giam cho đến nay; “có mặt”;
- Người chứng kiến:
1. Ông Vũ Mạnh H; “vắng mặt”.
2. Bà Mai Thị N; “vắng mặt”.
3. Ông Nguyễn Văn H; “vắng mặt”.
4. Ông Trần Văn H; “vắng mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn T là đối tượng nghiện ma tuý. Khoảng 19 giờ, ngày 21/12/2021, Thành điều khiển xe moto biển kiểm soát 72E1 – 01514 từ nhà ở xóm 6, xã Hải T, huyện Hải Hậu đến khu vực gần nhà văn hóa Tổ dân phố Hùng Uyển, thị trấn Cồn, huyện Hải Hậu gặp và mua của một người đàn ông không quen biết 01 gói ma tuý với giá 300.000 đồng để sử dụng cho bản thân. Sau đó, Thành gói ma túy vừa mua được vào tờ tiền mệnh giá 5000đồng và cho vào túi bên trái phía trước quần dài đang mặc rồi điều khiển xe moto đi về phía xã Hải Lý tìm nơi sử dụng. Khoảng 20 giờ, 15 phút cùng ngày, Thành đi đến khu vực xóm 7, xã Hải Lý thì bị tổ tuần tra Đồn biên phòng Văn Lý phối hợp Công an xã Hải Lý kiểm tra, phát hiện bắt quả tang thu giữ gói nhỏ bên ngoài gói bằng tờ tiền mệnh giá 5000đồng bên trong chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng. Thành khai nhận là ma tuý đá vừa mua để sử dụng cho bản thân và tự giác giao nộp gói ma túy cho tổ công tác. Tổ công tác đã mời người chứng kiến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, niêm phong gói nhỏ trong phong bì ký hiệu M. Ngoài ra tổ công tác còn thu giữ của Thành 01 xe moto nhãn hiệu Wave màu đỏ đen, biển kiểm soát 72E1 – 01514 và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bên trong có sim thuê bao số 0338.785.514. Ngày 22/12/2021 đồn biên phòng Văn Lý đã bàn giao toàn bộ hồ sơ cùng vật chứng cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Hải Hậu điều tra giải quyết theo thẩm quyền.
Theo kết luận giám định số 61/GĐKTHS ngày 22/12/2021, Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng được niêm phong ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại chất: Methamphetamine; khối lượng mẫu M: 0,801 gam.
Cáo trạng số 17/CT-VKSHH, ngày 15/3/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng của bản thân như đã nêu trên.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi tàng trữ trái phép 0,801 gam Methamphetamine để sử dụng cho bản thân của Nguyễn Văn T là hành vi vi phạm pháp luật, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; đề nghị tuyên phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 18 đến 22 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2021; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng thu giữ trong vụ án theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nhất trí với quan điểm luận tội của Kiểm sát viên và không tranh luận gì, trong lời nói sau cùng bị cáo ăn năn hối cải và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Hải Hậu, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại giai đoạn điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, kết hợp với kết luận giám định về số Methamphetamin thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ 15 phút, ngày 21/12/2021, tại khu vực xóm 7, xã Hải Lý, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định, Nguyễn Văn T có hành vi cất giấu trái phép 0,801 gam Methamphetamin trong người với mục đích sử dụng cho bản thân thì bị phát hiện bắt quả tang. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Hải Hậu đã truy tố là đúng.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng hành vi phạm tội của bị cáo: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý của Nhà nước về các chất gây nghiện. Tính nguy hiểm của hành vi còn thể hiện ở chỗ: Tệ nạn ma tuý đang là một vấn đề nhức nhối của xã hội, nó không chỉ huỷ hoại sức khoẻ của người nghiện mà còn khiến nhiều gia đình rơi vào cảnh khánh kiệt, bần cùng; là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm và gây mất trật tự, an toàn xã hội. Bị cáo Nguyễn Văn T là người nghiện ma túy, thấu hiểu về tác hại của ma túy, sự lên án của toàn xã hội đối với tệ nạn ma túy song không lấy đó làm bài học để rèn luyện bản thân, từ bỏ ma túy mà tiếp tục phạm tội nên cần phải xử lý nghiêm.
Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt: Hội đồng xét xử cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn T, thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn với mức hình phạt nghiêm minh đối với hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và góp phần phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định của khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng ...”. Xét bị cáo tàng trữ ma túy với mục đích sử dụng, bị cáo không có thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Đối với người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo Thành, bị cáo khai không biết tên tuổi, địa chỉ, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không đủ cơ sở kết luận nên không có căn cứ để xác minh, xử lý.
Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Số Methamphetamine đã thu giữ là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu cho tiêu hủy;
Tờ tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam mệnh giá 5000đồng, bị cáo T dùng để gói ma túy cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
Đối với chiếc xe moto nhãn hiệu Wave màu đỏ đen, biển kiểm soát 72E1 – 01514 thu giữ của Nguyễn Văn T. Quá trình điều tra Thành khai nhận là mượn của anh Trần Văn Huy, sinh năm 1993; địa chỉ: tổ dân phố số 3, thị trấn Cồn, huyện Hải Hậu, tỉnh Nam Định. Cơ quan điều tra đã triệu tập nhiều lần nhưng anh Huy không có mặt tại địa phương nên đã tách ra để xác minh, xử lý sau là phù hợp.
Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bên trong có sim thuê bao số 0338.785.514 là tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của bị cáo Thành không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho bị cáo.
Về án phí: Bị cáo bị kết tội nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 21/12/2021.
2. Về xử lý vật chứng, tài sản thu giữ: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Tịch thu tiêu hủy: Số Methamphetamine trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 61/GĐKTHS ngày 22/12/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định;
Tịch thu sung quỹ nhà nước tờ tiền mệnh giá 5000đồng.
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng bên trong có sim thuê bao số 0338.785.514.
(Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 01/4/2020 giữa Công an huyện Hải Hậu và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hải Hậu).
3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 cùng Danh mục án phí, lệ phí Tòa án kèm theo của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy đinh về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; buộc bị cáo Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND tỉnh, huyện; - Chi cục THADS huyện; - Công an huyện; - UBND xã Hải T; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu: Văn thư. | THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hằng |