vanban.org

Bản án 20/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đoan Hùng, tỉnh Phú Thọ Tuyên án 16/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạc A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Mạc A 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo là ngày 06/01/2022. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "bị cáo Nguyễn Mạc A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạc A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN Đ
TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

–––––––––––––––
Bản án số: 20/2022/HS-ST
Ngày 16/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH PHÚ THỌ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Quang Võ.

Ông Vũ Quang Yên.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Lan- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Linh- Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2022/TLST-HS ngày 20 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:24/2022/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Nguyễn Mạc A- Sinh ngày 20 tháng 10 năm 1987; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu 11, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá học hết lớp 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Mạc Q - sinh năm 1960; con bà Nguyễn Thị Đ - sinh năm 1961; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: không; Tiền sự: không; Nhân thân: Năm 2007, Nguyễn Mạc A bị Chủ tịch UBND huyện Đ ra quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm lao động xã hội tỉnh Phú Thọ thời hạn 24 tháng, chấp hành xong ngày 02/8/2009; Năm 2016 Nguyễn Mạc A bị Công an huyện Đ, tỉnh Phú Thọ xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” với số tiền phạt 2.000.000đ, chấp hành xong năm 2017; Tại bản án hình sự sơ thẩm số 02/2011/HSST ngày 17/01/2011 Nguyễn Mạc A bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 36 tháng tù giam về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, đã chấp hành xong hình phạt ngày 23/6/2013. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 06/01/2022, hiện đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh Phú Thọ (Có mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Chị Lưu Thị T - sinh năm 1977.

Trú tại: Thôn T, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái. (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 16 giờ 05 phút ngày 05/01/2022, tại khu 11 xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, tổ công tác thuộc Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Đ phát hiện Nguyễn Mạc A có biểu hiện nghi vấn vi phạm pháp luật, tổ công tác yêu cầu kiểm tra hành chính đối với Nguyễn Mạc A, tại chỗ, Nguyễn Mạc A tự lấy trong túi quần bên phải đang mặc trên người 01 gói nhỏ, bên ngoài được gói bằng mảnh giấy một mặt màu trắng có in hình họa tiết, một mặt màu trắng có viết các chữ số, bên trong có chứa 02 gói nhỏ đều có đặc điểm được gói bằng mảnh giấy, hai mặt có hình họa tiết và chữ, bên trong 02 gói nhỏ có chứa chất bột, cục màu trắng, Nguyễn Mạc A khai chất bột cục màu trắng chứa trong các gói trên là ma túy loại Heroine, Anh tàng trữ nhằm bán cho người khác. Tổ công tác lập biên bản vi phạm hành chính đối với Anh, niêm phong vật chứng là 02 gói nhỏ đều có đặc điểm được gói bằng mảnh giấy, hai mặt có hình họa tiết và chữ, bên trong 02 gói nhỏ có chứa chất bột, cục màu trắng, tạm giữ của Nguyễn Mạc A 01 điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA 105 màu đen đã cũ lắp sim thuê bao 0393.011.xxx và số tiền 200.000đ.

Cùng ngày, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ thi hành lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Mạc A. Kết quả: không phát hiện và thu giữ đồ vật, tài liệu gì.

Ngày 06/01/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện Đ ra Quyết định trưng cầu giám định chất bột, cục, màu trắng thu giữ của Nguyễn Mạc A. Tại Bản kết luận giám định số 111/KLGĐ, ngày 11/01/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ, kết luận:

“Chất bột, cục màu trắng chứa trong 02 gói giấy trong Bì niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có tổng khối lượng là 0,090 gam, loại: Heroine”

Tại Cơ quan CSĐT, Nguyễn Mạc A khai nhận: Nguyễn Mạc A và Lưu Thị T đều nghiện ma túy nên quen biết nhau và lưu số điện thoại của nhau để tiện liên lạc. Trong thời gian quen biết nhau, Nguyễn Mạc A đã hai lần bán ma túy loại Heroine cho Lưu Thị T để T sử dụng, cụ thể:

Lần 1: Khoảng 11giờ, ngày 04/01/2022, Lưu Thị T đang ở nhà thuộc thôn T, xã M, huyện Y, tỉnh Yên Bái thì có nhu cầu sử ma túy nên T dùng điện thoại nhãn hiệu SAMSUNG lắp sim thuê bao 0919.805.xxx gọi điện đến sim thuê bao 0393.011.xxx lắp trong điện thoại nhãn hiệu NOKIA 105 của Nguyễn Mạc A hỏi mua 500.000đ ma túy. Lúc này Nguyễn Mạc A đang ở nhà thuộc khu 11, xã B, huyện Đ và có sẵn ma túy. Nguyễn Mạc A đồng ý bán và hẹn Lưu Thị T đến nhà Nguyễn Mạc A để giao dịch mua bán. T đồng ý, đến khoảng 12 giờ cùng ngày T đi bộ một mình đến nhà của Nguyễn Mạc A, tại đây, T đưa cho Nguyễn Mạc A 01 tờ tiền mệnh giá 500.000đ vừa đưa T bảo Anh “để cho chị con hai” Nguyễn Mạc A hiểu ý T là bán cho T 01 gói Heroine với giá 200.000đ. Nguyễn Mạc A đồng ý và bảo T đứng chờ, còn Nguyễn Mạc A cầm 500.000đ T đưa rồi đi bộ sang Cửa hàng xăng dầu số 34, thuộc Công ty xăng dầu Phú Thọ đối diện nhà Nguyễn Mạc A gặp chị Phạm Thị Mai P, là nhân viên của Công ty xăng dầu Phú Thọ nhờ đổi tờ tiền vừa nhận từ T thành 02 tờ tiền mệnh giá 200.000đ và 01 tờ tiền mệnh giá 100.000đ, khi đổi tiền Nguyễn Mạc A không nói cho chị P biết đây là tiền trao đổi mua bán ma túy, rồi quay lại trả cho T 300.000đ. Anh giữ lại 200.000đ, sau đó A lấy trong túi quần bên phải ra 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng mảnh giấy chống ẩm, một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong chứa ma túy đưa cho T. T cầm gói ma túy này đi đến một bãi đất trống thuộc khu 11, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ sử dụng hết.

Lần 2: Khoảng 09 giờ, ngày 05/01/2022, Lưu Thị T đang ở nhà thì có nhu cầu sử ma túy nên T dùng điện thoại của mình gọi điện cho Nguyễn Mạc A hỏi mua 500.000đ ma túy. Lúc này Nguyễn Mạc A đang ở nhà nhưng chỉ có gói ma túy giá 200.000đ. Nguyễn Mạc A hỏi T có mua không? T đồng ý mua, Nguyễn Mạc A hẹn T đến nhà Nguyễn Mạc A để mua bán. T đồng ý đi bộ đến nhà gặp Nguyễn Mạc A, tại đây, T đưa cho Nguyễn Mạc A 02 tờ tiền mệnh giá 100.000đ, sau đó Nguyễn Mạc A cầm tiền rồi lấy trong túi quần bò đang mặc bên phải ra 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng mảnh giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng, bên trong chứa ma túy đưa cho T. T cầm gói ma túy rồi đến bãi đất trống thuộc khu 11, xã B sử dụng hết.

Đến hồi 16 giờ 50 phút, ngày 05/01/2022, Nguyễn Mạc A để trong túi quần bò bên phải đang mặc 01 gói nhỏ bên ngoài là mảnh giấy một mặt màu trắng có in hình họa tiết, một mặt màu trắng có viết các chữ số, bên trong chứa 02 gói nhỏ đều có đặc điểm gói ngoài là mảnh giấy hai mặt có in hình họa tiết và chữ, bên trong đều chứa ma túy loại Heroine có tổng khối lượng là 0,090 gam đi bộ ra ven đường Quốc lộ 70, trước cửa nhà Nguyễn Mạc A, thuộc khu 11, xã B, huyện Đ với mục đích có người đến hỏi mua thì bán 02 gói ma túy này nhưng chưa kịp bán thì tổ công tác Công an huyện Đ phát hiện và thu giữ như đã nêu trên.

Căn cứ lời khai của Nguyễn Mạc A, Cơ quan điều tra triệu tập Lưu Thị T đến làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Lưu Thị T khai nhận hành vi mua ma túy Heroine của Nguyễn Mạc A để sử dụng, phù hợp với lời khai của Nguyễn Mạc A. Lưu Thị T tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG màu trắng, lắp sim thuê bao 0919805xxx.

Về nguồn gốc ma túy có được để bán cho Lưu Thị T ngày 04/01/2022, ngày 05/01/2022, Nguyễn Mạc A khai sáng ngày 04/01/2022, A đi đến thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Yên Bái gặp hỏi mua 200.000đ ma túy của một người nam giới tên B, khoảng 35 tuổi, A không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ người đàn ông này ở đâu. Người đàn ông này cầm 200.000đ của A và đưa cho A 1 gói ma túy được gói bằng giấy có hình hoa văn và chữ. Sau đó A đem về nhà dùng dao lam chia gói ma túy trên thành 4 phần như nhau, dùng giấy lịch treo tường gói lại, cất trên người để bán cho người sử dụng.

Đối với người nam giới đã bán ma túy cho Nguyễn Mạc A, Cơ quan điều tra chưa làm rõ được người này là ai, ở đâu. Vì vậy, Cơ quan CSĐT tiếp tục điều tra làm rõ, khi nào có căn cứ sẽ xử lý sau.

Đối với Lưu Thị T là người nghiện ma túy, và có hành vi mua ma túy của Nguyễn Mạc A để sử dụng cho bản thân. Hành vi trên của T chưa cấu thành tội phạm. Vì vậy, Cơ quan CSĐT chuyển hồ sơ và các tài liệu liên quan, đề nghị Công an huyện Đ xử lý hành chính.

Về vật chứng đã thu giữ trong quá trình bắt quả tang và quá trình điều tra:

01 Bì niêm phong số 111/KLGĐ, của phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ bên trong chứa 0,051gam ma túy Heroine là vật chứng còn lại sau khi giám định; 01 điện thoại di động SAMSUNG, màn hình cảm ứng, màu trắng, lắp sim số 0919805xxx là của Lưu Thị T; 01 điện thoại di động NOKIA, màu đen, lắp sim số 0393011xxx là của Nguyễn Mạc A . Số tiền 200.000đ thu giữ của Nguyễn Mạc A.

Về điều kiện kinh tế của các bị cáo: Bị cáo sống cùng gia đình ngoài các tài sản chung phục vụ cuộc sống thiết yếu, không có tài sản riêng gì có giá trị.

Tại bản cáo trạng số 20 ngày 19/5/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ đã truy tố Nguyễn Mạc A về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng: điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Mạc A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Mạc A từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo là ngày 06/01/2022.

- Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng.

- Về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí hình sự sơ thẩm: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng hình sự: Các Quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra và Viện kiểm sát cũng như hành vi tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong giai đoạn khởi tố vụ án, khởi tố bị can và truy tố đối với bị cáo Nguyễn Mạc A là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Về căn cứ buộc tội: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Mạc A khai nhận: Trong các ngày 04/01/2022 và ngày 05/01/2022, tại khu 11, xã B, huyện Đ, tỉnh Phú Thọ, Nguyễn Mạc A đã có hành vi 02 (hai) lần bán trái phép heroine cho Lưu Thị T thu tổng số tiền là 400.000đ (bốn trăm nghìn đồng). Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các biên bản hỏi cung bị can, phù hợp với biên bản sự việc do Công an huyện Đ lập ngày 05/01/2022, vật chứng của vụ án, kết luận giám định “Chất bột, cục màu trắng chứa trong 02 gói giấy trong bì niêm phong gửu đến giám định là ma túy,có tổng khối lượng là 0,090 gam loại Heroine”, cùng các tài liệu đã thu giữ lưu trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Mạc A đã phạm vào tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự;

Điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào mua bán trái phép chất ma túy thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm.

b. Phạm tội 02 lần trở lên;

Về tính chất của hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến tính chất độc quyền quản lý chất ma túy của nhà nước, hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo là rất nguy hiểm không những cho cá nhân, gia đình các bị cáo mà cho cả xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây mất an ninh trật tự xã hội, bị toàn xã hội lên án, bị pháp luật nghiêm cấm vì vậy phải áp dụng một hình phạt tù thật nghiêm khắc để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

Về nhân thân: Bị cáo không có tiền án, tiền sự nhưng bị cáo là người có nhân thân xấu năm 2007 từng bị áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc, năm 2011 bị Tòa án nhân dân huyện Đ xét xử về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, năm 2016 bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bị cáo đều đã chấp hành xong.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cần xem xét: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, an năn hối cải, bị cáo được hưởng một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về trách nhiệm dân sự:

Đối với số tiền 200.000đ bị cáo được hưởng lợi từ việc bán ma túy cho Lưu Thị T, hiện cơ quan điều tra chưa thu hồi được nên cần truy thu của bị cáo để nộp sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng:

Đối với những vật chứng thu giữ của bị cáo Nguyễn Mạc A 200.000đ (hai trăm nghìn đồng), 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia. Đây là tài sản của bị cáo, số tiền 200.000đ là số tiền bị cáo bán ma túy mà có, chiếc điện thoại di động bị cáo dùng vào việc liên lạc để bán ma túy, tài sản này đã trực tiếp liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên cần tịch thu để sung quỹ nhà nước.

Đối với vật chứng thu giữ của bị cáo Nguyễn Mạc A 01 sim điện thoại di động số 0393011xxx, số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 bì niêm phong số 111/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ. Xét thấy đây là vật chứng của vụ án trực tiếp liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo, hiện không còn giá trị sử dụng và là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu để tiêu hủy.

Đối với những vật chứng thu giữ của: Chị Lưu Thị T 01 chiếc điện thoại di động Samsung, 01 chiếc sim điện thoại di động thuê bao số 0919805xxx. Xét thấy đây là tài sản của chị T, những vật chứng này hiện còn giá trị sử dụng, chị T không thực hiện hành vi phạm tội nên cần trả lại những vật chứng này cho chị T.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Cần buộc bị cáo Nguyễn Mạc A phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.

Xét lời đề nghị của của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, hình phạt đối với bị cáo và đường lối xử lý vật chứng là có căn cứ, đúng pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào: Điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạc A phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Xử phạt Nguyễn Mạc A 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt tạm giam bị cáo là ngày 06/01/2022.

2. Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Căn cứ điểm b, c khoản 1, khoản 2 Điều 47 của Bộ luật hình sự; Khoản 2 điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Truy thu để sung quỹ Nhà nước của bị cáo Nguyễn Mạc A số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

- Tịch thu sung quỹ nhà nước của: Nguyễn Mạc A số tiền 200.000đ (hai trăm nghìn đồng); 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, số IMEI 1: 355803092084308, IMEI 2: 355803092084303.

- Tịch thu tiêu hủy 01 sim điện thoại di động thuê bao số 0393011xxx, số ma túy còn lại sau giám định đựng trong 01 bì niêm phong số 111/KLGĐ của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Phú Thọ.

- Trả lại cho chị Lưu Thị T: 01 chiếc điện thoại di động Samsung số IMEI 1:355079083394994, IMEI2:355080083394992, 01 chiếc sim điện thoại di động thuê bao số 0919805xxx.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 135, Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Mạc A phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao, hoặc được niêm yết.

Cỡ chữ