vanban.org

Bản án 20/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cư M'Gar, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 20/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Anh H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Anh H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 01/01/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Anh Hùng - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Bùi Anh H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CU M’GAR

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH ĐĂK LĂK
Bản án số: 20 /2022/HS-ST
Ngày 20/5/2022

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƢ M’GAR– TỈNH ĐĂK LĂK

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Y Lợi Niê

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Mạnh, bà Hà Thị Hương.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung – Thư ký tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk

- Đại diện VKS huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk tham gia phiên tòa: Ông Dương Hoàng Long - Chức vụ: Kiểm sát viên

Ngày 20/5/2022, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Cư M’gar, tỉnh Đăk Lăk, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2022/HSST ngày 14 tháng 4 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2022/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 5 năm 2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: : Bùi Anh H; Tên gọi khác: không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 30/4/1999 tại tỉnh DL;

Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi phạm tội: thôn 19, xã Cư Ê, huyện CK, tỉnh DL;

Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Bùi Trọng Ch, sinh năm: 1972 và con bà: Giản Kim H, sinh năm: 1976. Hiện đang sinh sống tại thôn 19, xã Cư Ê, huyện CK, tỉnh DL; Bị cáo chưa có vợ con.

Tiền án, Tiền sự: Không;

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 01/01/2022 cho đến nay – có mặt tại phiên tòa.

* Ngƣời liên quan:

1/ Anh Lƣu Đức H – sinh năm 1996

(Có mặt)

Địa chỉ: thôn 19, xã Cư Ê, huyện CK, tỉnh DL

2/ Anh Lƣu Đức H2 – sinh năm 1993

(Có mặt)

Địa chỉ: thôn 19, xã Cư Ê, huyện CK, tỉnh DL

3/ Chị Võ Thị Ph – sinh năm 1990

(Vắng mặt)

Địa chỉ: thôn 22, xã EN, huyện CK, tỉnh DL

4/ Anh Nguyễn Thanh H3 – sinh năm 1988 (Có đơn xin xét xử vắng mặt)

Địa chỉ: TDP 10, phường KX, Tp. BM, tỉnh DL.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 01/01/2022, Bùi Anh H sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A51 có gắn sim số 0986.788.786 gọi đến số thuê bao 0945.911.887 (của 01 người đàn ông chưa rõ nhân thân lai lịch) để mua ma túy về sử dụng. H và người đàn ông thỏa thuận số tiền mua ma túy là 1.300.000 đồng và trả tiền bằng cách chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng. Sau đó H đi đến tiệm điện thoại di động Nguyễn Hoàng (do chị Võ Thị Ph, sinh năm: 1990, địa chỉ: thôn 22, xã EN, huyện CK, tỉnh DL làm chủ – tiệm điện thoại có dịch vụ chuyển tiền hộ) để nhờ dịch vụ chuyển tiền cho người đàn ông bán ma túy. Sau khi chuyển tiền, H gọi điện thoại cho người đàn ông bán ma túy và hẹn đến ngã 3 xã CD, huyện CM để lấy ma túy.

Khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, H gọi điện thoại cho Lưu Đức H (sinh năm: 1996, trú tại: thôn 19, xã Cư Ê, huyện CK, tỉnh DL) và nhờ H chở đến ngã 3 xã CD có công việc thì H đồng ý. Khoảng 15 phút sau, H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH MODE, biển số: 47T1 – 335.39 (xe của Lưu Đức H2, anh trai ruột của H) chở H đi đến khu vực ngã 3 xã CD, huyện CM. Sau đó người đàn ông bán ma túy hẹn H đến cổng chào thôn Đoàn Kết, xã EDr, huyện CMđể lấy ma túy. H bảo H điều khiển xe đến cổng chào thôn Đoàn Kết. Khi đến nơi, H dừng xe và ngồi trên xe, còn H đi đến vị trí chân cổng chào lấy 01 hộp nhựa có chứa ma túy bên trong. Khoảng 13 giờ 35 phút cùng ngày, sau khi lấy được ma túy, H lên xe để H chở về thì bị lực lượng Công an phát hiện bắt quả tang H đang cầm 01 hộp nhựa màu trắng, kiểm tra bên trong hộp nhựa phát hiện 01 khăn giấy vệ sinh, bên trong khăn giấy vệ sinh có 01 gói nilon màu trắng (kích thước 08cm x 04cm), bên trong gói nilon có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong suốt, H khai nhận chất rắn dạng tinh thể nêu trên là ma túy đá, H mua về mục đích để sử dụng.

Tại bản kết luận giám định số 81/GĐMT-PC09 ngày 07/01/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Lắk kết luận: Chất rắn dạng tinh thể trong suốt bên trong 01 gói nilon trong suốt được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng: 4,1646 gam, loại: Methamphetamine.

Tại bản cáo trạng số: 17/KSĐT-HS ngày 14/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện CM, truy tố bị cáo Bùi Anh H về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự;

Kết quả xét hỏi tại phiên tòa bị cáo Bùi Anh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu ở trên.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát đã đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo và giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo Bùi Anh H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Bùi Anh H mức án từ 03 năm sáu tháng đến 4 năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 01/01/2022.

Biện pháp tƣ pháp: Áp dụng Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Đề nghị tịch thu 4,0202 gam mẫu vật còn lại sau giám định là ma túy, loại Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu.

Đề nghị tịch thu sung Ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A51, màu xanh, số IMEI1: 352353110611032, số IMEI2: 352354110611030 là Ph tiện Bùi Anh H sử dụng liên lạc để mua ma túy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda SH MODE, biển kiểm soát: 47T1 – 335.39, số máy: JF87E5177190, số khung: 5169KZ184341; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô 47T1 – 335.39 mang tên Lưu Đức H2: đây là xe mô tô của anh Lưu Đức H2 (sinh năm: 1993, là anh trai ruột của Lưu Đức H). Ngày 01/01/2022, Lưu Đức H sử dụng xe mô tô nêu trên chở H đi công việc, H không biết việc H nhờ chở đi lấy ma túy, anh H2 cũng không biết việc H sử dụng xe mô tô chở H đi lấy ma túy. Do đó ngày 26/01/2022, Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cùng giấy chứng nhận xe mô tô nêu trên cho anh Lưu Đức H2 là chủ sở hữu hợp pháp

Tại phiên tòa bị cáo không tranh luận bào chữa gì mà chỉ mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra và tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thẩm quyền theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người liên quan không có ý kiến kH3 nại về hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.

Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ đã thu thập hợp pháp được lưu trong hồ sơ vụ án và qua kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xác định: Vào khoảng 13 giờ 35 phút ngày 01/01/2022, tại thôn Đoàn Kết, xã EDr, huyện CM, tỉnh DL, Bùi Anh H đã có hành vi tàng trữ trái phép 4,1646 gam ma túy, loại: Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị phát hiện bắt quả tang cùng tang vật.

Xét quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân huyện CMtruy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản luật áp dụng là có căn cứ, đúng pháp luật.

Đối cH3 với quy định của pháp luật hình sự thì hành vi của Bùi Anh H đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo qui định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.

Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 quy định:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

…..

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được rằng Ma túy không chỉ hủy hoại sức khỏe con người mà còn khiến nhiều gia đình lâm vào cảnh khánh kiệt, bần cùng, ma túy là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội gia tăng và gây mất trật tự an toàn xã hội bị cáo vẫn cố ý vi phạm. Bản thân bị cáo là đối tượng sử dụng ma túy từ tháng 3 năm 2021, bị cáo nhận thức việc tàng trữ chất ma túy là vi phạm pháp luật, xâm phạm đến sự quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất gây nghiện nhưng do ý thức coi thường Pháp luật nên bị cáo vẫn mua ma túy của một người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch bằng hình thức chuyển khoản với giá 1.300.000 đồng để sử dụng. Qua giám định, số ma túy bị thu giữ được trên người bị cáo có khối lượng là 4,1646 gam, loại Methamphetamine. Vì vậy, cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo.

Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt HĐXX thấy bị cáo không có tình tiết tăng nặng, quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đều thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Từ những phân tích trên Hội đồng xét xử cần dành cho bị cáo mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, đồng thời cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung trong toàn xã hội.

Đối với Lưu Đức H: Khi chở H đi, H không biết việc H đi lấy ma túy, cũng không biết việc H liên hệ, chuyển tiền mua ma túy như thế nào. Khi H gọi điện thoại nhờ H chỉ nói chở đi có công việc. Do đó không có căn cứ để xem xét, xử lý Lưu Đức H đồng phạm với H về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với đối tượng bán ma túy cho Bùi Anh H, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện CMđã điều tra xác minh nhưng chưa xác định được nhân thân, lai lịch của đối tượng này. Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, làm rõ sẽ xử lý sau.

Đối với số điện thoại 0945.911.887 mà H liên hệ để mua ma túy, qua xác minh số điện thoại nêu trên đứng tên thuê bao Nguyễn Thanh H3 (sinh năm: 1988, trú tại: phường KX, thành phố BM, tỉnh DL). Qua làm việc Nguyễn Thanh H3 khai nhận không sử dụng số điện thoại 0945.911.887. Quá trình sinh sống tại địa phương H3 không vi phạm pháp luật gì. Đồng thời Cơ quan điều tra tiến hành cho H nhận dạng qua ảnh (có ảnh của H3), qua nhận dạng H xác nhận H3 không phải là người bán ma túy cho H. Do đó cơ quan điều tra không đề cập xử lý đối với Nguyễn Thanh H3.

Đối với Lưu Đức H2 (anh ruột của Lưu Đức H), khi cho H mượn xe mô tô 47T1 – 335.39, anh H2 không biết H sử dụng chở Bùi Anh H đi lấy ma túy. Mặt khác H cũng không biết Bùi Anh H nhờ chở đi lấy ma túy. Do đó Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Đối với chị Võ Thị Ph (chủ tiệm điện thoại Nguyễn Hoàng): Quá trình mở dịch vụ chuyển tiền hộ chị Ph chuyển tiền cho nhiều người, chị Ph không biết việc Bùi Anh H chuyển khoản để mua ma túy nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với số tài khoản mà Bùi Anh H đã chuyển tiền mua ma túy, qua làm việc H không nhớ được số tài khoản, không xác định được ngân hàng nào. Mặt khác qua tra cứu giao dịch trên điện thoại của chị Võ Thị Ph xác định trong ngày 01/01/2022 chị Ph thực hiện nhiều giao dịch chuyển tiền nH không có giao dịch nào có trị giá 1.300.000 đồng. Do đó chưa đủ cơ sở xác định chủ tài khoản ngân hàng mà Bùi Anh H đã chuyển tiền.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ được 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong hộp nhựa có 01 khăn giấy vệ sinh, bên trong khăn giấy vệ sinh có 01 gói nilon màu trắng (kích thước 08cm x 04cm), bên trong gói nilon có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong suốt được niêm phong gửi giám định, có khối lượng còn lại sau khi giám định là 4,0202 gam ma túy loại: Methamphetamine và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu; 01 sim số 0986.788.786. Đây là chất cấm thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành và sim số 0986.788.786 là công cụ phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A51, màu xanh, số IMEI1: 352353110611032, số IMEI2: 352354110611030 là Ph tiện Bùi Anh H sử dụng liên lạc để mua ma túy nên cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Anh H phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Xử phạt: Bị cáo Bùi Anh H 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 01/01/2022.

Các biện pháp tư pháp:

* Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 1 Điều 46; khoản 1, khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ khối lượng 4,0202 gam ma túy loại: Methamphetamine còn lại sau khi giám định và toàn bộ bao gói đựng mẫu vật gửi giám định ban đầu; 01 hộp nhựa màu trắng, bên trong hộp nhựa có 01 khăn giấy vệ sinh; 01 sim số 0986.788.786.

- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Galaxy A51, màu xanh, số IMEI1: 352353110611032, số IMEI2: 352354110611030.

(Vật chứng trên có đặc điểm, tình trạng như biên bản giao nhận vật chứng ngày 15/4/2022 giữa Cơ quan điều tra Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện CM, tỉnh DL).

* Về án phí: Áp dụng Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: Bị cáo Bùi Anh H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

* Về quyền kháng cáo: Bị cáo, có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Nơi gửi:

Cỡ chữ