vanban.org

Bản án 20/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cam Lâm, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 12/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Lê Thị TuyếtT 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen đỏ, bên trong có gắn sim số 0905273960 theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 5 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Khánh Hòa… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Thị Tuyết T - phạm tội mua bán trái phép chất ma túy (điều 251 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Thị TuyếtT 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2022/HS-ST
Ngày 12-8-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C – TỈNH KHÁNH HÒA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Mỹ Hạnh

Các hội thẩm nhân dân:

Bà Nguyễn Thị Bội Hoàn

Ông Nguyễn Lai

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hoa Kim Cúc - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Danh Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 12/8/2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 14/2022/HSST ngày 23 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2022/ QĐXXST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Lê Thị Tuyết T, sinh năm 1993 tại Khánh Hòa; nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: thôn Dầu Sơn, xã Suối Tân, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Thừa (đã chết) và con bà Nguyễn Thị Lộc, sinh năm 1968; chồng Nguyễn Sên, sinh năm 1989, con: 03 đứa (lớn nhất sinh năm 2012, nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị Lộc, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn Dầu Sơn, xã Suối Tân, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt

2. Ông Huỳnh Hải, sinh năm: 1962; địa chỉ: 1219 đường 23/10, phường Vĩnh Trung, thành phố Nha Trang, Khánh Hòa. Có đơn xin vắng mặt

3. Ông Phan Công Luận, sinh năm: 1973; địa chỉ: đội 2, Thôn Trung Nam, xã Diên Toàn, huyện Diên Khánh, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

- Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn Quốc Dũng, sinh năm 1994; địa chỉ: Thôn Cây Xoài, xã Suối Tân, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

2. Ông Dương Văn Hào, sinh năm: 1996; địa chỉ: Thôn Dầu Sơn, xã Suối Tân, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

3. Ông Nguyễn Anh Dũng, sinh năm: 1989; địa chỉ: Thôn Dầu Sơn, xã Suối Tân, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

4. Ông Cao Ngọc Sương, sinh năm: 1964; địa chỉ: Thôn Cây Xoài, xã Suối Tân, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 12 giờ 40 phút ngày 30/8/2021, Nguyễn Quốc Dũng gọi điện thoại choT hỏi mua ma túy thìT nói hết tiền, không còn ma túy để bán nên Dũng nóiT đến nhà Dũng lấy tiền đi mua ma túy. Nghe vậy,T điều khiển xe mô tô 79K8-3286 của mẹ là bà Nguyễn Thị Lộc đến nhà Dũng ở thôn Cây Xoài, xã Suối Tân, huyện C. Tại đây, Dũng nói không có tiền và nhờT chở Dũng đi thế chấp điện thoại hiệu Iphone của Dũng lấy tiền mua ma túy thìT đồng ý. Do không tìm được chỗ thế chấp điện thoại nênT gọi điện thoại cho người thanh niên tên “Hiếu” (không rõ nhân thân, lai lịch) thường hay bán ma túy cho mình về việc thế chấp điện thoại lấy ma túy thì Hiếu đồng ý và hẹn gặp nhau ở Cây xăng Lê Dâng ở thị trấn Cam Đức. Sau khi gặp Hiếu,T nói Dũng đưa điện thoại cho Hiếu, rồiT cùng Hiếu đi ra khu vực khác nói chuyện và thỏa thuận chiếc điện thoại trị giá 1.400.000 đồng, trong đóT trả tiền nợ cũ là 900.000 đồng, còn 500.000 đồng để mua ma túy. Hiếu đồng ý và chỉ chỗ giấu ma túy dưới một viên đá choT rồi bỏ đi.T đi đến lật viên đá lên, lấy gói ma túy là 01 bịch nylon được hàn kín hai đầu, có kích thước (2x3)cm, bên trong chứa tinh thể dạng rắn, màu trắng bỏ vào trong túi áo khoác, rồi điều khiển xe mô tô chở Dũng về lại xã Suối Tân. Trên đường đi,T nói Dũng mua gói ma túy trên với giá 800.000 đồng và hỏi Dũng mua bao nhiêu ma túy thì Dũng nói mua 500.000 đồng. KhiT đang chuẩn bị phân ma túy ra bán cho Dũng tại căn nhà hoang ở thôn Cây Xoài, xã Suối Tân, huyện C thì Công an xã Suối Tân đến nênT cất gói ma túy vào túi áo khoác bên trái. Lực lượng Công an tiến hành kiểm tra, thu giữ và niêm phong gói ma túy trên vào phong bì ký hiệu A; thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đỏ củaT; xe mô tô biển số 79K8-3286 và lập biên bản bắt người phạm tội quả tang. Tại Cơ quan Công an,T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Qúa trình điều tra,T khai nhận là từ đầu tháng 7/2021,T thường xuyên vào thị trấn Cam Đức mua ma túy của “Hiếu” về phân nhỏ vào các ống hút nhựa dài khoảng 02cm, rồi hàn kín hai đầu để bán lại kiếm lời. Sau khi nhận điện thoại của người mua,T hẹn đến địa điểm vắng vẻ ở đường liên thôn Cây Xoài, đường liên thôn Dầu Sơn, khu vực đường ray xe lửa thuộc thôn Dầu Sơn, xã Suối Tân để giao ma túy và nhận tiền.T đã bán ma túy cho Nguyễn Quốc Dũng 06 lần, Nguyễn Anh Dũng 04 lần và Dương Văn Hào 02 lần, mỗi lần bán là 01 gói ma túy với giá từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng.

Tại Kết luận giám định số 334/GĐTP/2020 ngày 06/9/2021 của Phòng kỹ thuật Công an hình sự tỉnh Khánh Hòa kết luận: Tinh thể màu trắng trong mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy có khối lượng 0,2780gam loại Methamphetamine.

Vật chứng vụ án: 01 gói nylon chứa ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,2780g đã sử dụng hết trong quá trình giám định; xe mô tô biển số 79K8-3286, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Lộc; một điện thoại di động hiệu Masstel màu đen đỏ bên trong gắn 01 thẻ sim số 0905273960.

Đối với Nguyễn Quốc Dũng đã đưa điện thoại choT đổi ma túy nhưng mục đích của Dũng là lấy ma túy để sử dụng, giữa Dũng vàT không có sự bàn bạc, thỏa thuận về việc ma túy bán cho người khác. Đồng thời khi bị lực lượng Công an bắt quả tang,T chưa kịp phân ma túy để bán cho Dũng nên hành vi của Dũng chưa đủ yếu tố cấu thành một trong các loại tội: Tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán trái pháp chất ma túy.

Đối với người thanh niên tên “Hiếu” đã bán ma túy choT tại thị trấn Cam Đức, huyện C; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý. Đối với bà Nguyễn Thị Lộc đã giao xe mô tô biển số 79K8-3286 choT sử dụng, tuy nhiên bà Lộc không biếtT sử dụng xe vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xử lý, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại xe mô tô cho bà Lộc.

Đối với Nguyễn Anh Dũng, Nguyễn Quốc Dũng và Dương Văn Hào đã có hành vi mua ma túy củaT để sử dụng, Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Anh Dũng, Nguyễn Quốc Dũng và Dương Văn Hào về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Cáo trạng số 13/CT-VKSCL ngày 20/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa đã truy tố bị cáo Lê Thị TuyếtT về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

- Bị cáo Lê Thị TuyếtT khai nhận hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Thị TuyếtT theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tuyên phạt bị cáo Lê Thị TuyếtT từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; về hình phạt bổ sung: không áp dụng; về xử lý vật chứng: đề nghị tịch thu sung quỹ 01(một) điện thoại di động hiệu Masstel, màu đen đỏ, bên trong có gắn sim số 0905273960; về án phí: bị cáo phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Phan Công Luận; người làm chứng Nguyễn Quốc Dũng, Dương Văn Hào, Nguyễn Anh Dũng đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt không có lý do. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Huỳnh Hải có đơn xin vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án; căn cứ Điều 292, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử xét xử vụ án theo thủ tục chung.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên toà, bị cáo Lê Thị TuyếtT đã khai nhận hành vi mua bán trái phép chất ma túy đúng như nội dung Cáo trạng đã truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra; phù hợp với lời khai người làm chứng, tang vật thu giữ trong vụ án, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có cơ sở kết luận: khoảng 16 giờ 30 phút ngày 30/8/2021 tại căn nhà hoang ở thôn Cây Xoài, xã Suối Tân, huyện C, tỉnh Khánh Hòa, khiT đang chuẩn bị phân nhỏ ma túy ra bán cho Nguyễn Quốc Dũng thì bị lực lượng Công an xã Suối Tân phát hiện bắt quả tang, ma túy trong quá trình điều tra được giám định là loại Methamphetamine có khối lượng 0,2780gam. Trước đó từ đầu tháng 7 đến ngày bị bắt quả tang,T thường xuyên đến thị trấn Cam Đức, huyện C mua ma túy của thanh niên tên “Hiếu” chưa rõ nhân thân, lai lịch về địa bàn xã Suối Tân, huyện C phân nhỏ để bán lại kiếm lời;T đã bán ma túy cho Nguyễn Quốc Dũng 06 lần, Nguyễn Anh Dũng 04 lần và Dương Văn Hào 02 lần, mỗi lần bán là 01 gói ma túy với giá từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm nhân dân huyện C truy tố bị cáo theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét vai trò, tính chất, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội: Hành vi mua bán trái phép chất ma túy của bị cáo đã xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về ma tuý, xâm phạm trật tự an toàn của xã hội. Do vậy việc xử phạt bị cáo một mức án nghiêm khắc là cần thiết; ngoài việc cải tạo, giáo dục bị cáo còn nhằm tuyên truyền giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật, tinh thần phòng chống tội phạm đặc biệt là lĩnh vực phòng chống tệ nạn ma tuý trong giai đoạn hiện nay.

Xét tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét hình phạt bổ sung: Qua xác minh của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C cũng như lời khai bị cáo tại phiên tòa, bị cáo Lê Thị TuyếtT hiện không có công việc ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn và đang nuôi các con nhỏ, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: 01 gói nylon chứa ma túy loại Methamphetamine có khối lượng 0,2780g đã sử dụng hết trong quá trình giám định; xe mô tô biển số 79K8-3286, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Nguyễn Thị Lộc; 01 điện thoại di động hiệu Masstel màu đen đỏ bên trong gắn 01 thẻ sim số 0905273960 là công cụ, phương tiện bị cáo dùng vào việc phạm tội nên cần tịch thu sung qũy nhà nước.

Qua tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời khai của bị cáoT tại phiên tòa thì khoảng đầu tháng 7/2021 đến trước ngàyT bị bắt quả tang, Nguyễn Quốc Dũng đã nhiều lần mua ma túy củaT để sử dụng. Vào ngày 30/8/2021 Dũng đưa điện thoại choT đi thế chấp đổi lấy ma túy, Dũng không biết người thanh niên tên “Hiếu” cũng như việc trao đổi, mua bán ma túy giữaT và người thanh niên tên “Hiếu”; giữa Dũng vàT cũng không có sự bàn bạc, thỏa thuận về việc bán lại ma túy cho người khác. Mục đích Dũng đi cùngT là lấy ma túy từT để sử dụng. Lời khai củaT phù hợp với lời khai của Dũng tại cơ quan điều tra. Đồng thời khi bị lực lượng Công an bắt quả tang,T chưa phân ma túy để bán cho Dũng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C kết luận hành vi của Nguyễn Quốc Dũng chưa đủ yếu tố cấu thành một trong các loại tội: Tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán trái phép chất ma túy trong vụ án này là có căn cứ.

Đối với người thanh niên tên “Hiếu” đã bán ma túy choT tại thị trấn Cam Đức, huyện C; Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với bà Nguyễn Thị Lộc đã giao xe mô tô biển số 79K8-3286 choT sử dụng, tuy nhiên bà Lộc không biếtT sử dụng xe vào việc phạm tội nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với Nguyễn Anh Dũng, Nguyễn Quốc Dũng và Dương Văn Hào đã có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Công an huyện C đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

- Căn cứ vào Điều 106, Điều 136; Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử phạt bị cáo Lê Thị TuyếtT 07 (bảy) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù tính từ ngày thi hành án.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu sung quỹ nhà nước 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen đỏ, bên trong có gắn sim số 0905273960 theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 24 tháng 5 năm 2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C với Chi cục thi hành án dân sự huyện C, tỉnh Khánh Hòa.

Về án phí: Bị cáo Lê Thị TuyếtT phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ