vanban.org

Bản án 20/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn Tuyên án 27/09/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Ma Văn Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ma Văn Th 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ đi số ngày bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 19/6/2022 đến ngày 27/6/2022). Về vật chứng: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ma Văn Th - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Ma Văn Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BA BỂ
TỈNH BẮC KẠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2022/HS-ST
Ngày: 27-9-2022.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA BỂ, TỈNH BẮC KẠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà: Lý Thị Thịnh.

Ông: Lưu Xuân Thảo.

- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Thị Ưu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên toà: Ông Hoàng Trọng Hữu và bà Hoàng Thị Thu Huyền - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2022/TLST-HS, ngày 09 tháng 9 năm 2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 9 năm 2022 đối với bị cáo:

Ma Văn Th, (Tên gọi khác: không) sinh ngày 03/8/1995, tại huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Nơi ĐKHKTT và nơi ở hiện nay: Thôn T, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ma Thế D và bà Hoàng Thị H; Vợ, con: Chưa; tiền án: Không; tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/6/2022 đến ngày 27/6/2022 thì được tại ngoại cho đến nay có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Ma Thế D, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Thôn T, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn; Có mặt.

* Người chứng kiến:

- Ông Nguyễn Viết Ph, sinh năm 1955. Vắng mặt.

- Bà Ma Thị Ng, sinh năm 1961. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 30 phút, ngày 19/6/2022, bị cáo Ma Văn Th điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97F2-7119 đi từ nhà đến khu vực thôn M, xã Th, huyện B với mục đích tìm mua ma túy để sử dụng. Đến nơi, bị cáo Th gặp một người đàn ông không quen biết, có biểu hiện giống người nghiện nên hỏi mua ma túy với người đàn ông đó, bị cáo Th đưa số tiền 200.000 đồng được 01 gói ma túy. Trên đường về nhà, bị cáo Th vào bụi tre gần đường rồi lấy một ít ma túy ra sử dụng, số ma túy còn lại bị cáo Th chia ra thành 03 gói nhỏ và cất giấu vào túi quần đang mặc với mục đích để sử dụng dần. Khi về đến đoạn đường thuộc thôn N, xã Th, huyện B thì bị cáo Ma Văn Th bị tổ công tác Công an huyện Ba Bể dừng xe kiểm tra, bị cáo Th đã tự nguyện đem số ma túy cất giấu trong túi quần đang mặc ra giao nộp. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ 03 gói chứa chất dạng cục, bột màu trắng nghi là ma túy Heroine của bị cáo Ma Văn Th và niêm phong trong phong bì ký hiệu A1. Ngoài ra còn tạm giữ của bị cáo Ma Văn Th 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO và 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh, biển kiểm soát 97F2-7119. Đồng thời tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở và các công trình phụ cận có liên quan của bị cáo Ma Văn Th (thôn T, xã Th, huyện B), kết quả khám xét không phát hiện, thu giữ thêm đồ vật, tài liệu gì có liên quan đến hành vi vi phạm của bị cáo Th.

Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể đã tiến hành mở niêm phong phong bì ký hiệu A1 để cân xác định khối lượng 03 gói chứa chất dạng cục, bột màu trắng thu giữ của bị cáo Ma Văn Th được 0,22 gam (niêm phong trong phong bì ký hiệu B1). Sau đó tiến hành bàn giao cho Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn để trưng cầu giám định.

Tại Kết luận giám định số: 116/KL-KTHS ngày 24/6/2022 của Phòng kỹ thuật hình sự, Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu B1 gửi giám định là ma túy, loại Heroine, có khối lượng là 0,22 g (không phẩy hai hai gam). Sau giám định, mẫu chất trong phong bì ký hiệu B1 còn lại là 0,18 g (không phẩy một tám gam) cùng phong bì, bao gói cũ được niêm phong vào phong bì mới ký hiệu T124 và hoàn trả lại cho Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể quản lý theo quy định.

Bản Cáo trạng số: 20/CT-VKSBB ngày 07/9/2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố bị cáo Ma Văn Th về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Điều luật có nội dung:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”

Trước cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo Ma Văn Th đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể duy trì quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Ma Văn Th phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo Ma Văn Th từ 12 tháng đến 15 tháng tù. Thời hạn tù kể từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ đi số ngày bị cáo bị tạm giữ.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo thuộc đối tượng nghiện ma túy, không có việc làm, không có tài sản riêng nên đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự để xử lý vật chứng:

- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ số vật chứng không có giá trị sử dụng gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, giấy gói cũ vụ Ma Văn Th; 01 phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T124, bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “Vụ Ma Văn Th (1995) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T124”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được, 01 hàng chữ “Bùi Minh Th” cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) quần đùi, màu đen, quần cũ đã qua sử dụng thu được của bị cáo Ma Văn Thế do liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo Thế.

- Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh, BKS: 97F2-7119; xe cũ đã qua sử dụng cho ông Ma Thế D vì ông D không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe mô tô để thực hiện hành vi phạm tội.

- Trả lại 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh, đen, màn hình có vết nứt, vỡ, điện thoại cũ đã qua sử dụng cho bị cáo Ma Văn Th do không liên quan đến hành vi phạm tội. Tuy nhiên, cần tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận bị cáo đồng ý với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật và mức hình phạt áp dụng và không có ý kiến tranh luận. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến tranh luận. Lời nói sau cùng: Bị cáo không có ý kiến gì.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn; quyết định tố tụng được ban hành đúng thẩm quyền, đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử những người tham gia tố tụng không ai khiếu nại về quyết định, hành vi của Cơ quan, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt những người chứng kiến. Tuy nhiên, họ đã có đầy đủ lời khai tại giai đoạn điều tra, việc vắng mặt của họ không làm ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án của Tòa án. Căn cứ vào Điều 296 của Bộ luật tố tụng Hình sự Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ.

Về căn cứ định tội, định khung hình phạt:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Ma Văn Th đều thừa nhận: Vào Hồi 14 giờ 00 phút ngày 19/6/2022, tại thôn N, xã Th, huyện B, tổ công tác của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể bắt quả tang bị cáo Ma Văn Th về hành vi tàng trữ trái phép 03 gói ma túy, loại Heroine có tổng khối lượng 0,22 g (không phẩy hai hai gam). Mục đích bị cáo Th mua ma túy về chỉ để sử dụng cho bản thân.

Bị cáo là người có đủ năng lực hành vi nhưng bị cáo vẫn thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi của bị cáo thỏa mãn các yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến cùng tài liệu, chứng cứ đã thu thập được và phù hợp với thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Ma Văn Th đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:

- Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Trong các giai đoạn tố tụng bị cáo đều "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải" là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, mặt khác góp phần tiếp tay làm gia tăng tệ nạn sử dụng ma tuý và tội phạm khác ở địa phương, gây mất an ninh trật tự, khiến quần chúng nhân dân bất bình lên án, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, do đó cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định mới cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người công dân lương thiện, có ích cho xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo là người nghiện ma túy, không có tài sản riêng, không có nghề nghiệp ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng:

* Đối với vật chứng gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, giấy gói cũ vụ Ma Văn Th; 01 phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T124, bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “Vụ Ma Văn Th (1995) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T124”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được, 01 hàng chữ “Bùi Minh Th” cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (một) quần đùi, màu đen, quần cũ đã qua sử dụng thu được của bị cáo Ma Văn Th.

Toàn bộ số vật chứng trên không có giá trị sử dụng, cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

* Đối với 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh, BKS: 97F2-7119; xe cũ đã qua sử dụng của ông Ma Thế D. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể đã xác định được việc bị cáo dùng chiếc xe này để đi mua ma túy ông D không biết nên cần trả lại chiếc xe trên cho ông D.

* Đối với 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh, đen, màn hình có vết nứt, vỡ, điện thoại cũ đã qua sử dụng của bị cáo Ma Văn Th do không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo Th nhưng cần tạm giữ để thi hành án cho bị cáo.

Về vấn đề khác: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Ma Văn Th có khai mua ma túy của người đàn ông không rõ danh tính, họ tên, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

Đối với ông Ma Thế D bố đẻ của bị cáo Ma Văn Th, ngày 19/6/2022 bị cáo Th đã sử dụng xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh, BKS: 97F2-7119 của ông D để đi mua ma túy, ông D không biết nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Ba Bể không xử lý là có căn cứ pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 47; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Tuyên bố: Bị cáo Ma Văn Th phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy".

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Ma Văn Th 13 (Mười ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án được trừ đi số ngày bị cáo bị tạm giữ (từ ngày 19/6/2022 đến ngày 27/6/2022).

3. Về vật chứng:

* Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số vật chứng không có giá trị sử dụng, cấm tàng trữ, cấm lưu hành gồm: 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu B2 bên trong có chứa phong bì, giấy gói cũ vụ Ma Văn Th; 01 phong bì mẫu hoàn trả đã niêm phong ký hiệu T124, bên trong phong bì có chứa: Mẫu vật còn lại sau giám định và phong bì, giấy gói cũ. Tình trạng phong bì niêm phong còn nguyên vẹn. Mặt trước phong bì có ghi “Vụ Ma Văn Th (1995) tàng trữ trái phép chất ma túy”, ký hiệu “T124”, mặt sau có 04 chữ ký không đọc được, 01 hàng chữ “Bùi Minh Th” cùng 02 dấu tròn của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn; 01 (một) quần đùi, màu đen, quần cũ đã qua sử dụng thu được của bị cáo Ma Văn Th.

* Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu HONDA WAVE, màu xanh, BKS: 97F2-7119; xe cũ đã qua sử dụng cho ông Ma Thế D, sinh năm 1971. Nơi cư trú: Thôn T, xã Th, huyện B, tỉnh Bắc Kạn.

* Trả lại 01 (một) điện thoại di động, màn hình cảm ứng, nhãn hiệu OPPO, màu xanh, đen, màn hình có vết nứt, vỡ, điện thoại cũ đã qua sử dụng cho bị cáo Ma Văn Th nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo.

(Tình trạng, số lượng vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/9/2022 giữa Công an huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Ba Bể, tỉnh Bắc Kạn).

4. Về án phí: Buộc bị cáo Ma Văn Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

“Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6,7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Cỡ chữ