- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 79/2021/HSST ngày 09/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc về phần hình phạt đối với bị cáo Lê Th.
- Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:20/2022/HS-PT Ngày 14 - 4 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Bích Ngọc.
Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Thúy Mai và bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
- Thư ký phiên toà: ông Phạm Quang Đại - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: bà Bùi Thị Kim Tuyến - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 4 năm 2022, tại Trụ sở Tòa nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:122/2021/TLPT-HS ngày 14 tháng 10 năm 2021 đối với các bị cáo Lê Th và Nguyễn VH, do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2021/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc.
Các bị cáo có kháng cáo:
1. Lê Th, sinh ngày 11 tháng 7 năm 1984; nơi cư trú: Thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Lvà bà Nguyễn Y; có vợ là Nguyễn HLvà có 03 con (lớn nhất sinh năm 2008, nhỏ nhất sinh năm 2019); tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 31/2014/HSST ngày 07/5/2014 Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường xử phạt Lê Th 07 tháng tù về tội Đánh bạc. Ngày 16/8/2014 Th chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2021 đến ngày 14/6/2021 được thay thế biện pháp ngăn chặn sang cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
2. Nguyễn VH, sinh ngày 06 tháng 7 năm 1991; trú tại: Thôn Đ, xã S, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; chức vụ Đảng, đoàn thể: Không; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn V. Th và bà Chu V; có vợ là Đỗ Hg và có 02 con (lớn sinh năm 2018, nhỏ sinh năm 2020); tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại bản án số 101/2012/HSST ngày 26/12/2012, Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường xử phạt Nguyễn VH 09 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Ngày 05/6/2013 Huy chấp hành xong toàn bộ bản án.
Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2021 đến ngày 14/6/2021 được thay thế biện pháp tạm giam bằng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan khác không có kháng cáo, không bị kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 07 giờ 00 phút ngày 03/5/2021, Lê Th đi bộ đến nhà anh Phạm B1, sinh năm 1971 ở thôn C- xã BS- huyện Vĩnh Tường - tỉnh Vĩnh Phúc để chơi. Nhà anh B1 có kê 01 bộ bàn ghế đá ở khuôn viên vườn Th cổng ra vào, hàng ngày anh B1 thường để mở cổng cho một số người trong xóm qua lại đi vào uống nước và ngồi chơi nói chuyện tại đây. Lúc này, nhà anh B1 mở cổng nhưng không có ai ở nhà nên Th sử dụng số điện thoại 0972.430.144 của Th gọi vào số điện thoại 0987.069.007 của anh B1 hỏi “anh có ở nhà không?”, anh B1 trả lời “không có ở nhà, đang đi làm”, Th tiếp tục hỏi “em vào ghế đá nhà anh uống nước nhé?” anh B1 trả lời “ừ cứ vào mà uống nước” rồi anh B1 tắt máy. Khi Th đang ngồi uống nước thì lần lượt có Văn Đình Dg; Nguyễn Nhân Chn; Nguyễn Trung HH và Nguyễn VH cũng đi đến nhà anh B1 chơi và ngồi uống nước cùng với Th tại bộ bàn ghế đá. Quá trình ngồi chơi tại đây, Th rủ Dg, Chn, HH, Huy đánh bạc bằng hình thức chơi bài sâm ăn tiền thì các đối tượng trên đều đồng ý. Lúc này, Th, Dg, Chn, HH, Huy thấy trong khuôn viên đất nhà anh B1 có 01 nhà kho để đồ không đóng cửa nên tất cả rủ nhau đi vào căn phòng ngoài cùng bên trái theo hướng từ ngoài sân nhìn vào dãy nhà kho này để đánh bạc. Khi vào trong nhà kho các đối tượng thấy có 01 chiếc cHH nhựa đôi đã trải sẵn dưới nền nhà và 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân để ở trên cHH nên tất cả cùng ngồi xuống cHH thống nhất đánh bạc với nhau bằng hình thức chơi bài sâm ăn tiền với tỷ lệ ăn thua là 10.000đ/01 lá bài.
Hình thức chơi bài sâm ăn tiền và cách tính thắng thua được các con bạc quy định như sau: Bộ bài tú lơ khơ có 52 quân chia cho mỗi người chơi 10 quân bài, số bài còn lại để ở dưới cHH. Cách chơi bài sâm cụ thể như sau: Quân bài cao sẽ bắt được quân bài thấp, bộ cao hơn sẽ bắt được bộ thấp hơn và không tính đồng hoa hay đồng chất mà chỉ tính theo thứ tự quân bài. Trong đó quân 2 là quân bài cao nhất, tiếp đến là quân át (A) rồi theo thứ tự thấp dần từ quân K xuống tới quân 3. Các quân bài có thứ tự liên tiếp liền kề nhau từ 03 quân trở lên sẽ được tính là bộ dọc, có 02 quân trong bộ tứ thì được tính là bộ đôi, có 03 quân trong bộ tứ thì tính là bộ 3. Ai đánh hết các quân bài của mình trước thì người đó thắng và được thu tiền của những người chơi còn lại theo tỷ lệ: Cứ mỗi quân bài mà người chơi còn lại trên tay (tức là các quân bài chưa đánh được) thì được thu 10.000đ. Ai không đánh được quân bài nào thì gọi là bị "cháy" hay còn gọi là bị "treo" và phải nộp cho người thắng số tiền 150.000đ. Nếu ai hô sâm mà thắng tức là không có ai bắt được các quân bài hoặc bộ bài của người hô sâm đánh trước khi người đó hạ quân bài hoặc bộ bài cuối cùng còn lại trên tay xuống cHH thì người hô sâm sẽ được thu của mỗi người chơi còn lại số tiền 200.000đ. Trường hợp có người chơi nào bắt được một trong các quân bài hoặc bộ bài người hô sâm đánh trước khi người hô sâm hạ quân bài hoặc bộ bài cuối cùng xuống cHH thì người hô sâm phải trả cho người bắt được sâm số tiền bằng với số tiền người đó được hưởng nếu thắng sâm là 800.000đ (thường gọi là đền sâm). Ai có "tứ quý" tức là có đủ 4 quân trong bộ tứ thì có thể bắt được quân 2, người đánh quân 2 bị bắt tứ quý sẽ phải trả cho người bắt tứ quý đó số tiền 150.000đ. Quá trình đánh bạc thì Chn bị thua hết số tiền đem theo nên đã vay của Th 2.000.000đ và sử dụng số tiền này để tiếp tục đánh bạc. Các đối tượng Th, Huy, HH, Dương và Chn đánh bạc sát phạt nhau đến khoảng 09 giờ 30 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an huyện Vĩnh Tường bắt quả tang và thu giữ vật chứng gồm:
- Thu tại địa điểm các đối tượng ngồi đánh bạc: Số tiền 6.520.000đ (Sáu triệu năm trăm hai mươi nghìn đồng), 01 bộ bài tú lơ khơ có 52 quân, 01 chiếc cHH nhựa đôi đã cũ.
- Kiểm tra, thu giữ trên người các đối tượng:
+ Nguyễn Trung HH: Số tiền 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng) để tại túi quần phía sau bên phải và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A9, màu xanh, có số IMEI: 862435048977651.
+ Lê Th: 01 chiếc ví giả da để dưới cHH trước mặt Th, bên trong ví có số tiền 5.000.000đ (Năm triệu đồng) và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J7 Prime, màu xám, có số IMEI: 357625088412187.
+ Văn Đình Dg: Số tiền 5.980.000đ (Năm triệu chín trăm tám mươi nghìn đồng) ở túi quần phía trước bên trái, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Nokia 6.1, màu đen, có số IMEI: 358549088343680 và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy J5 Prime, màu đen, đã bị vỡ màn hình cảm ứng, có số IMEI: 355079084290092.
+ Nguyễn VH: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A12, màu xanh, có số IMEI: 869644050479596.
+ Nguyễn Nhân Chn: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A31, màu xám, có số IMEI: 354565115467080.
Tổng số tiền thu giữ trên cHH bạc và trên người các đối tượng đánh bạc là 21.000.000đ (Hai mươi mốt triệu đồng).
Quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và khai nhận số tiền sử dụng vào việc đánh bạc cụ thể như sau: Lê Th là người rủ rê, trực tiếp tham gia đánh bạc cùng các đối tượng, quá trình đánh bạc sử dụng 5.700.000đ vào việc đánh bạc; Nguyễn VH mang theo số tiền 2.520.000đ; Nguyễn Trung HH mang theo số tiền 6.300.000đ, Văn Đình Dg mang theo số tiền 3.500.000đ; Nguyễn Nhân Chn mang theo số tiền 2.980.000đ, trong quá trình đánh bạc Chn vay của Th 2.000.000đ để sử dụng vào việc đánh bạc. Các đối tượng sử dụng toàn bộ số tiền mang theo trên vào việc đánh bạc. Tổng số tiền Nguyễn Trung HH, Lê Th, Nguyễn VH, Nguyễn Nhân Chn, Văn Đình Dg sử dụng vào việc đánh bạc là 21.000.000đ. Số tiền các đối tượng khai nhận là hoàn toàn phù hợp với số tiền đã thu giữ trên cHH bạc và trên người các đối tượng khi bắt quả tang.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2021/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường đã quyết định:
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Lê Th phạm tội Đánh bạc. Xử phạt bị cáo Lê Th 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2021 đến ngày 14/6/2021.
Căn cứ khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn VH phạm tội Đánh bạc. Xử phạt bị cáo Nguyễn VH 10 (Mười) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2021 đến ngày 14/6/2021.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử phạt các bị cáo khác hình phạt tù cho hưởng án treo, áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, quyết định xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 17/9/2021, bị cáo Lê Th và Nguyễn VH có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và đề nghị được hưởng án treo.
Tại cấp phúc thẩm và phiên tòa phúc thẩm: Các bị cáo Lê Th, Nguyễn VH vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho các bị cáo được hưởng án treo. Các bị cáo giao nộp thêm tài liệu, chứng cứ mới là biên lai nộp tiền phạt và tiền án phí theo bản án sơ thẩm và đơn xin giảm nhẹ hình phạt có xác nhận của chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Th, giữ nguyên quyết định về hình phạt đối với bị cáo Th của Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2021/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn VH theo hướng giữ nguyên mức hình phạt và sửa Bản án hình sự sơ thẩm số: 79/2021/HS-ST ngày 09 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc theo hướng cho bị cáo Huy được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hình thức: Đơn kháng cáo của các bị cáo Lê Th, Nguyễn VH trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét.
Về tố tụng: Cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự, các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo trong vụ án đã đầy đủ, có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
Về nội dung: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, phiên tòa phúc thẩm các bị cáo Lê Th, Nguyễn VH khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo khác về thời gian, địa điểm, hình thức thực hiện tội phạm cùng các tài liệu, chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận:
Hồi 09 giờ 30 phút ngày 03/5/2021 tại nhà kho để đồ thuộc khuôn viên đất của gia đình anh Phạm B1, sinh năm 1971 ở thôn Chùa- xã Bồ Sao- huyện Vĩnh Tường- tỉnh Vĩnh Phúc, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Vĩnh Tường bắt quả tang Lê Th; Nguyễn VH; Nguyễn Trung HH; Văn Đình Dg và Nguyễn Nhân Chn có hành vi đánh bạc bằng hình thức chơi bài sâm ăn tiền. Tang vật thu giữ gồm 21.000.000đ (là tiền các đối tượng sử dụng vào đánh bạc), 01 bộ bài tú lơ khơ 52 quân, 01 chiếc cHH nhựa đôi đã cũ, 01 ví giả da và 06 điện thoại di động các loại.
Căn cứ vào lời khai của các bị cáo Lê Th, Nguyễn VH tại phiên tòa và những chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Th và Huy về tội “đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật, không oan sai.
Xét tính chất của vụ án là tội phạm ít nghiêm trọng nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến trật tự an toàn công cộng được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy, cần xử lý nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng, phòng ngừa chung, phục vụ nhiệm vụ giữ vững an ninh trật tự tại địa phương.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Lê Th và Nguyễn VH, Hội đồng xét xử thấy rằng: Các bị cáo Th và Huy đã từng bị xử phạt về hành vi phạm tội. Cụ thể năm 2014, bị cáo Th bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường xử phạt 07 tháng tù về tội Đánh bạc, mức đánh bạc là dưới 5.000.000đ. Tuy nhiên, bị cáo bị xét xử theo Bộ luật hình sự năm 2009. Còn đối với bị cáo Huy năm 2012 bị Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường xử phạt 09 tháng tù về tội Cố ý làm hư hỏng tài sản. Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện tội phạm, căn cứ vai trò, vị trí và nhân thân của bị cáo để xử phạt bị cáo Th 01 (một) năm tù, bị cáo Huy 10 (mười) tháng tù về cùng tội “đánh bạc” là phù hợp quy định của pháp luật, tương xứng với hành vi do các bị cáo thực hiện.
Tại cấp phúc thẩm các bị cáo đều nộp biên lai thu tiền nộp phạt và nộp tiền án phí theo bản án sơ thẩm đã tuyên; đơn xin giảm nhẹ hình phạt trong đơn đều thể hiện gia đình các bị cáo có hoàn cảnh khó khăn bố mẹ già, con còn nhỏ và là lao động chính trong gia đình. Đơn đã được chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú xác nhận. Đây là các tình tiết mới được Hội đồng xét xử xem xét tại phiên tòa phúc thẩm. Các bị cáo đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi của mình; bố đẻ bị cáo Th và bị cáo Huy là người có công với nước. Bố bị cáo Th được tặng thưởng Huy hiệu Chn sĩ cứu nước và Huy chương Chn sĩ vẻ vang. Bố bị cáo Huy tham gia kháng Chn chống mỹ cứu nước được nhà nước giải quyết chế độ trợ cấp 01 lần; bị cáo Th và Huy đã tự nguyện nộp tiền phạt, gia đình có hoàn cảnh khó khăn được địa phương xác nhận. Hành vi của Th và Huy đã bị xét xử đến nay không còn là tiền án, tội phạm mới thực hiện là loại tội ít nghiêm trọng. Các bị cáo đều có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, bị cáo Th là người khởi xướng, rủ rê các bị cáo khác tham gia đánh bạc, bị cáo dùng số tiền nhiều thứ hai trong vụ án để tham gia đánh bạc, quá trình đánh bạc cho Chn vay tiền để đánh bạc; bị cáo đã từng bị xét xử về hành vi đánh bạc là hành vi cùng loại với hành vi bị xét xử. Những phân tích nêu trên cho thấy bị cáo tham gia đánh bạc rất tích cực. Mặc dù, đã từng bị xét xử về hành vi đánh bạc nhưng không lấy đó làm bài học rút kinh nghiệm, vẫn tiếp tục thực hiện hành vi cùng loại nên không có căn cứ để chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo của bị cáo Th.
Đối với bị cáo Huy có nhiều tình tiết giảm nhẹ như đã phân tích ở trên, có vai trò là đồng phạm thứ yếu, số tiền dùng tham gia đánh bạc ít nhất so với các bị cáo khác. Bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng nên cần chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Huy, giữ nguyên mức hình phạt và cho bị cáo Huy được áp dụng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện để cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tại phiên tòa phúc thẩm là có căn cứ, cần chấp nhận.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo Lê Th không được chấp nhận nên bị cáo Th phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn VH được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Lê Th, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 79/2021/HSST ngày 09/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc về phần hình phạt đối với bị cáo Lê Th.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e, khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Nguyễn VH, sửa bản án sơ thẩm số 79/2021/HSST ngày 09/9/2021 của Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Phúc về phần hình phạt đối với bị cáo Nguyễn VH.
Tuyên bố các bị cáo Lê Th và Nguyễn VH phạm tội “đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Th;
Xử phạt bị cáo Lê Th 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án. Được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 03/5/2021 đến ngày 14/6/2021.
Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Khoản 1,2,5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Nguyễn VH 10 (Mười) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 01 (một) năm 08 (Tám) tháng. Thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyễn VH cho Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách trường hợp người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí và lệ phí Tòa án.
Bị cáo Lê Th phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng chẵn) án phí hình sự phúc thẩm
Bị cáo Nguyễn VH không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Vĩnh Phúc; - Sở Tư pháp tỉnh Vĩnh Phúc; - TAND huyện Vĩnh Tường; - VKSND huyện Vĩnh Tường; - Công an huyện Vĩnh Tường; - Chi cục THA huyện Vĩnh Tường; -UBND xã Bồ Sao; - Các bị cáo; - Lưu: Hồ sơ, Văn phòng, Toà Hình sự. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Lê Thị Bích Ngọc |