- Tranh chấp gì? án hình sự — "Giá Văn Đ - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về án phí: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
- Căn cứ chính? Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 56 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/HS-PT Ngày: 31/8/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Văn Cường
Các Thẩm phán:
Ông Chu Đức Quế
Ông Nguyễn Khánh Phương
Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn
Đại diện Viện kiểm sát tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Dương Xuân Hổ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 26/2022/TLPT-HS ngày 12 tháng 7 năm 2022 đối với bị cáo Giá Văn Đ do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 18/2022/HS-ST ngày 31 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
* Bị cáo có kháng cáo:
Giá Văn Đ (tên gọi khác: Không); Sinh ngày 14 tháng 7 năm 1979 tại tỉnh Bắc Kạn; HKTT và chỗ ở: Thôn B, xã Q, huyện C, tỉnh B; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 0/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Giá Văn G (đã chết) và bà Đàm Thị H; vợ là Nông Thị N, có 02 con (con lớn sinh năm 1998, con nhỏ sinh năm 2002; tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 17/01/2022 đến ngày 25/01/2022 được thay đổi biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện bị cáo bị bắt tạm giam trong vụ án khác. Có mặt tại phiên tòa.
Trong vụ án còn có người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không liên quan đến nội dung kháng cáo Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Hồi 18 giờ 00 phút ngày 17/01/2022, Tổ công tác công an huyện C đã phát hiện và bắt quả tang Giá Văn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Thu giữ tại túi áo đằng trước bên trái Đ đang mặc 01 gói giấy màu trắng, bên trong có chứa 04 gói giấy một mặt màu vàng một mặt màu trắng, bên trong 04 gói trên đều chứa cục và chất bột màu trắng; thu giữ tại túi quần đằng sau bên phải 01 lọ màu trắng bên trong có 48 gói giấy, trong đó có 09 gói giấy nhiều màu sắc và 39 gói giấy một mặt màu vàng, một mặt màu trắng. Bên trong 48 gói giấy trên đều chứa chất màu trắng dạng cục và bột. tiến hành trích 52 mấu trong 52 gói thu giữ được củ Giá Văn Đ để thử phản ứng nhanh phát hiện chất ma túy. Tiến hành niêm phong 04 gói giấy thu giữ tại túi áo vào phong bì ký hiệu Đ1 và niêm phong lọ màu trắng chứa 48 gói giấy trong phong bì ký hiệu Đ2; thu giữ 01 xe mô tô Honda Wave RSX màu đỏ - đen, biển kiểm soát 97B1-227.98.
Tại biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng hồi 22 giờ 05 phút ngày 17/01/2022 xác định: Cân riêng toàn bộ cục và bột chất màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ1 có tổng khối lượng là 0,15gam, cân xong niêm phong lại ký hiệu Đ3 gửi giám định. Cân riêng chất màu trắng niêm phong trong phong bì ký hiệu Đ2 có tổng khối lượng 2,0gam, sau khi cân niêm phong lại ký hiệu Đ4 gửi giám định.
Tại bản kết luận giám định số 37/KTHS-MT ngày 24/01/2022 của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Kạn kết luận: Mẫu chất bột màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu Đ3 gửi giám định là ma túy loại Hêrôin, có khối lượng 0,15gam; Mẫu chất bột màu trắng dạng cục và bột trong phong bì ký hiệu Đ4 gửi giám định là ma túy loại Hêrôin, có khối lượng 2,0 gam.
Tại cơ quan điều tra Giá Văn Đ khai nhận toàn bộ số ma túy bị bắt quả tang là do trước đó vào ngày 16/01/2022, Đ một mình điều khiển xe mô tô BKS 97B1-227.98 đến huyện Định Hóa, tỉnh Thái nguyên để tìm mua ma túy về sử dụng. Khi đi đến ngã tư thuộc thị trấn C, huyện H thì Đ gặp và mua 01 gói ma túy với 01 người đàn ông không quen biết với giá 2.000.000đ. Sau khi mua được ma túy Đ quay về nhà và chia số ma túy thành nhiều gói nhỏ để sử dụng dần (Đ đã sử dụng 01 gói nhỏ trong số ma túy mua được). Khoảng 17 giờ ngày 17/01/2022 Đ đi từ nhà xuống xã L, huyện C để sử dụng ma túy thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ toàn bộ số ma túy trên.
Tại bản án Hình sự sơ thẩm số 18/2022/HSST ngày 31/5/2022 của Tòa án nhân dân huyện C đã tuyên bố bị cáo Giá Văn Đ phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38/BLHS. Xử phạt bị cáo Giá Văn Đ 30 (Ba mươi) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án, được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 17/01/2022 đến ngày 25/01/2022.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.
Sau khi xét xử sơ thẩm ngày 08/6/2022 bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn phát biểu quan điểm: Với hành vi tàng trữ 2,15 gam ma túy loại Hêrôin Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật. Mức hình phạt đã tuyên phù hợp với tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm.
Bị cáo Giá Văn Đ tại phiên tòa phúc thẩm thừa nhận hành vi phạm tội của mình, bị cáo khẳng định Tòa án cấp sơ thẩm xét xử về tội danh và hình phạt như vậy là đúng, không oan sai. Tuy nhiên, sau khi phạm tội bị cáo đã rất ăn năn hối cải. Bị cáo không được đi học không biết chữ nên nhận thức pháp luật hạn chế, bị cáo có bố dượng được nhà nước tặng thưởng Huân chương. Mong HĐXX xem xét giảm nhẹ mức hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa sai lầm sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về tố tụng: Kháng cáo của bị cáo đúng trình tự, thủ tục, đúng thời hạn quy định nên được xem xét theo trình tự phúc thẩm.
. Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, và khẳng định việc Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh và hình phạt như vậy là đúng, không oan. Căn cứ vào lời khai của bị cáo và các chứng cứ khác có trong hồ sơ đủ cơ sở kết luận: Ngày 17/01/2022 tại khu vực thôn D, xã Q, huyện C, Công an huyện C đã phát hiện và bắt quả tang Giá Văn Đ đang có hành vi tàng trữ trái phép 2,15 gam ma túy loại heroin với mục đích để sử dụng cho bản thân. Với hành vi nêu trên Tòa án cấp sơ thẩm đã xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249/BLHS là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.
. Xét kháng cáo của bị cáo thấy: Tại cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bố dượng được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Mức hình phạt 30 (ba mươi) tháng tù mà cấp sơ thẩm đã tuyên là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội bị cáo đã gây ra. Tại cấp phúc thẩm bị cáo không cung cấp thêm được tình tiết giảm nhẹ nào mới để làm căn cứ cho Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ mức hình phạt cho bị cáo. Ngoài ra, sau khi phạm tội bị cáo không ăn năn tu dưỡng bản thân để trở thành công dân tốt mà vẫn tiếp tục phạm tội mới và hiện nay đã bị xét xử trong một vụ án khác. Thể hiện ý thức coi thường pháp luật của bị cáo. Vì vậy, kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo là không có căn cứ, không được Hội đồng xét xử chấp nhận.
. Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí Hình sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a, khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Giá Văn Đ giữ nguyên quyết định của bản án sơ thẩm số 18/2022/HSST, ngày 31 tháng 5 năm 2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38/BLHS. Xử phạt bị cáo Giá Văn Đ 30 (ba mươi) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 56 Bộ luật hình sự 2015 tổng hợp hình phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tại bản án hình sự sơ thẩm số 23/2022/HSST ngày 25/7/2022 của Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai bản án là 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/4/2022 (được trừ thời gian đã tạm giữ từ ngày 17/01/2022 đến ngày 25/01/2022).
2. Về án phí: Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Giá Văn Đ phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
3. Các quyết định khác của bán án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bắc Kạn; - Sở tư pháp; - VKSND huyện C; - TAND huyện C; - THADS huyện C; - Công an huyện C; - Phòng hồ sơ - CAT; - Bị cáo; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Văn Cường |