- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Hồ Thị Hoàng Oanh ly hôn Âu Trung Hiếu"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Hồ Thị Hoàng T.
- Căn cứ chính? Điều 35 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN T TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/HNGĐ-ST Ngày:15-8-2022 V/v “Xin ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN T - TỈNH LONG AN
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn H
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hà Minh T
2. Bà Trần Thị N
-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Anh K -Thư ký Tòa án nhân dân huyện T.
Ngày 15 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện T xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số:83/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2022 về việc “Xin ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:23/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số:15/2022/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2022 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: bà Hồ Thị Hoàng T, sinh năm 1987 (có mặt)
HKTT: ấp Trương Công Ý, xã TL, huyện T, tỉnh Long An.
Chổ ở hiện nay: Ấp 3, xã Tân Thành, huyện T, tỉnh Long An.
2.Bị đơn: ông Âu Trung H, sinh năm 1984 (vắng mặt)
HKTT: ấp Cây Sao, xã TL, huyện T, tỉnh Long An.
Chổ ở hiện nay: ấp Trương Công Ý, xã TL, huyện T, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và lời khai bà Hồ Thị Hoàng T trình bày: Năm 2010 bà và ông Âu Trung H đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện T, tỉnh Long An. Trong thời gian chung sống không hợp với nhau, không có tiếng nói chung nên sống không hạnh phúc, đến tháng 01/2022 không chịu được tính gia trưởng và nhậu nhẹt của ông H, nên bà đưa con về cha mẹ ruột sống. Nay tình cảm bà xin ly hôn ông H.
Con chung: Có 01 con tên Âu Hồ Quốc D, sinh ngày 29/01/2013, nay bà yêu cầu được nuôi con chung và yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn ông Âu Trung H: Toà án tiến hành tống đạt thông báo thụ lý vụ án số: 83/2022/TB-TLVA ngày 13 tháng 6 năm 2022 và thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải hợp lệ lần 2, nhưng ông H vắng mặt, nên Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi ngiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Đối với ông Âu Trung H, Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 23/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số:15/2022/QĐST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2022 hợp lệ, nhưng ông H cố tình vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật.
[1.2] Bà Hồ Thị Hoàng T và ông Âu Trung H đăng ký kết hôn ngày 10/5/2010 tại Uỷ ban nhân dân xã TL, huyện T, tỉnh Long An là hôn nhân hợp pháp theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, nay bà T xin ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án.
Nội dung vụ án:
Giữa bà T và ông H có tìm hiểu với nhau, đến năm 2010 đăng ký kết tại Ủy ban nhân dân xã TL, huyện T. Sau khi kết hôn bà T về sống chung với gia đình cha mẹ ông H, trong thời gian đầu hai bên sống có hạnh phúc, đến năm 2018 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân ông H hay ghen tuông vô cớ và khi nhậu về có đánh bà T, sự việc này cha mẹ có giàn xếp nhưng không kết quả. Ngoài ra trong thời gian chung sống ông H có gia trưởng trong gia đình, cho nên mâu thuẫn tình cảm giữa bà T và ông H ngày càng trầm trọng, đến tháng 02/2022 bà T về bên cha mẹ ruột sinh sống đến nay.
Đối với ông Âu Trung H, Tòa án tiến hành tống đạt thông báo kết quả phiên họp về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và ý kiến của đương sự trong vụ án, nhưng ông H không có văn bản hay ý kiến về việc bà T xin ly hôn, cũng như ông H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án. Từ đó cho thấy mục đích hôn nhân giữa bà T với ông H không đạt được và cuộc sống chung giữa hai bên không thể kéo dài, nên tại phiên tòa bà T yêu cầu xin ly hôn ông H có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 51, 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà T.
Về con chung: Tại phiên tòa bà T trình bày thời gian sống với ông H có 01 con tên Âu Hồ Quốc D, sinh ngày 29/01/2013, nay bà T yêu cầu được nuôi con. Xét thấy ông H được Tòa án tống đạt thông báo kết quả phiên họp về việc giao nộp, công khai chứng cứ và ý kiến của bà T về yêu cầu nuôi con, nhưng đến nay ông H không có ý kiến gì việc bà T yêu cầu nuôi con. Ngoài ra theo bản tự khai ngày 31/5/2022 của cháu Âu Hồ Quốc D nguyện vọng sống chung với mẹ là phù hợp với khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con của bà T có cơ sở.
Cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa bà T yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con theo quy định pháp luật là phù hợp Điều 110 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo công văn số 24/1999/KHXX, ngày 17/3/1999 của Tòa án nhân dân Tối Cao người không trực tiếp nuôi con có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng bằng ½ mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định, cũng như theo Nghị định số 38/2019/NĐ-CP ngày 09/5/2019 của Chính Phủ quy định mức lương tối thiểu (mức lương cơ sở) của đơn vị hành chính sự nghiệp là 1.490.000đồng/01 tháng, nên Hội đồng xét xử buộc ông H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 745.000đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 9/2022 cho đến khi con trưởng thành tròn 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: Tại phiên tòa bà T trình bày không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
Về án phí: Bà T phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm; ông H phải chịu 300.000đồng án phí sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, 39, khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 1 Điều 51, 56, các Điều 58, 81, 82, 83, 84 và Điều 110 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận đơn khởi kiện của bà Hồ Thị Hoàng T.
1.Về tình cảm: Bà Hồ Thị Hoàng T được ly hôn với ông Âu Trung H.
2.Về con chung: Bà Hồ Thị Hoàng T được quyền nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục con chung Âu Hồ Quốc D, sinh ngày 29/01/2013; ông Âu Trung H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 745.000đồng, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 09/2022 cho đến khi con trưởng thành tròn 18 tuổi.
Sau khi ly hôn bên không nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp có đơn yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 điều 84 luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3.Về án phí: Bà Hồ Thị Hoàng T phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, chuyển 300.000đồng tiền tạm ứng án phí của bà T theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0004320 ngày 13/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện T, sang thành án phí.
Ông Âu Trung H phải chịu 300.000đồng tiền án phí sơ thẩm về cấp dưỡng nuôi con theo quyết định của Tòa án.
Báo nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị đơn vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND huyện T; - Chi cục THADS huyện T; - Các đương sự; - UBND xã nơi đăng ký kết hôn; - Lưu VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn H |