- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Hợp đồng vay tài sản"
- Tòa quyết gì? Về dân sự: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn A.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Bộ luật Dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/DS-ST Ngày: 13/5/2022 V/V tranh chấp “Hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ CAI LẬY-TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Thoa.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đặng Thị Tiềm
Bà Trần Thị Út
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Vinh – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.
Trong ngày 13 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 182/2021/TLST- DS ngày 15 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 33/2022/QĐXXST- DS ngày 25 tháng 3 năm 2022 giữa các đương sự.
Nguyên đơn: A
Địa chỉ: Lầu 8, 266-268 Nam Kỳ Khởi Nghĩa, Phường 8, quận A1, thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo pháp luật: bà B– Chức vụ: Tổng giám đốc.
Đại diện theo ủy quyền: bà C – Chức vụ: Phó Giám đốc Trung tâm thẻ (Văn bản ủy quyền số 1159/2020/GUQ-PL ngày 05/5/2020).
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: ông D – chức vụ: Phó phòng giao dịch Ngân hàng thương mại cổ phần Sài Gòn Thương Tín – Phòng giao dịch Cai Lậy (Văn bản ủy quyền số 15/2022/UQ-TTT ngày 14/02/2022).
Bị đơn: E, sinh năm 1990;
Địa chỉ: ấp E1, xã E2, thị xã E3, tỉnh Tiền Giang.
(Ông D có đơn xin vắng mặt và ông E vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện ngày 03/12/2020 của A, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn A có đại diện theo ủy quyền là ông D trình bày:
Ngày 18/10/2017 ông E có ký với A Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và Điệu kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng- các tài liệu này được gọi chung là hợp đồng).
Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng cho ông E cụ thể như sau:
- Với mức sử dụng là 22.000.000 đồng;
- Mục đích: Tiêu dùng cá nhân;
Trong quá trình sử dụng thẻ từ ngày kích hoạt đến nay ông E đã thực hiện giao dịch với tổng số tiền 45.190.000 đồng, ông E đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 38.200.000 đồng. Số tiền còn lại ông E ngưng không thanh toán, ngân hàng đã nhiều lần nhắc nhở nhưng ông E không có thiện chí trả nợ. Do ông E vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên ngày 01/7/2020 ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ thiếu sang nợ quá hạn.
Tính đến ngày 13/5/2022 ông E còn nợ các khoản sau:
- Nợ gốc: 26.137.559 đồng;
- Lãi quá hạn: 23.173.678 đồng;
- Tổng cộng: 49.311.237 đồng.
Nay A khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông E thanh toán cho A tổng số tiền tạm tính đến ngày 13/5/2022 là 49.311.237 đồng (nợ gốc: 26.137.559 đồng, lãi quá hạn: 23.173.678 đồng) và nợ lãi phát sinh theo mức lãi suất thỏa thuận tại các Hợp đồng tín dụng kể từ ngày 14/5/2022 cho đến khi thanh toán hết nợ.
Bị đơn ông E đã được Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; Quyết định hoãn phiên tòa nhưng ông E không có văn bản gửi Tòa án thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng và vắng mặt trong các phiên hòa giải, phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở lời trình bày của các đương sự, các tài liệu chứng cứ được đưa ra xem xét tại phiên tòa. Trên cơ sở kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa ông D là đại điện theo ủy quyền của nguyên đơn A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn ông E vắng mặt không lý do. Căn cứ khoản 1, 2 Điều 227, khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt ông D và ông E tại phiên tòa là phù hợp.
Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, thì đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” và bị đơn E cư trú tại ấp E1, xã E2, thị xã E3, tỉnh Tiền Giang. Căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 26, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy.
Về nội dung: Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn A có người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng là ông D yêu cầu ông E trả số tiền 49.311.237 đồng. Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, Hội đồng xét xử nhận thấy: Giao dịch vay tiền giữa Ngân hàng và ông E thực tế có xảy ra quan hệ vay tài sản với nhau thể hiện qua giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 18/10/2017 do Ngân hàng cung cấp có chữ ký tên của ông E và Đại diện Ngân hàng. Hợp đồng có nội dung thể hiện ông E được A cấp thẻ tín dụng với mức sử dụng là 22.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất là 2,6%/tháng (lãi suất trong hạn), vay tín chấp nên không có tài sản bảo đảm. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông E đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 45.190.000 đồng, ông E đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 38.200.000 đồng. Số tiền còn lại ông E ngưng không thanh toán. Trong quá trình vay vốn ông E đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán đầy đủ nợ theo như thỏa thuận trong Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng. Tính đến ngày xét xử 13/5/2022 ông E còn nợ Ngân hàng số tiền 49.311.237 đồng. Xét thấy tài liệu chứng cứ Ngân hàng cung cấp có thể hiện số tiền mà ông E vay và còn nợ Ngân hàng.
Bị đơn ông E đã được Tòa án nhân dân thị xã Cai Lậy tống đạt Thông báo thụ lý vụ án; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; Quyết định đưa vụ án ra xét xử; triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn không đến và không có ý kiến gửi cho Tòa án. Cho thấy bị đơn ông E đã biết được số tiền vay mà phía nguyên đơn đã khởi kiện để yêu cầu phía bị đơn phải có nghĩa vụ trả, nhưng phía bị đơn ông E đã từ bỏ nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh là mình có nợ số tiền vay đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hay không; đều này cũng đồng nghĩa là phía bị đơn đã thừa nhận số tiền vay còn nợ mà phía nguyên đơn đã khởi kiện để yêu cầu phía bị đơn phải trả nên không cung cấp tài liệu, chứng cứ để chứng minh. Việc bị đơn cố tình không đến nhằm kéo dài thời gian trả nợ và gây khó khăn cho việc thu hồi nợ đối với phía nguyên đơn. Bị đơn ông E đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn.
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Buộc bị đơn ông E có nghĩa vụ trả cho nguyên đơn A số tiền 49.311.237 đồng.
Về án phí: Do chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nên phía bị đơn phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho phía nguyên đơn theo quy định tại khoản 2, Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; nên ông E phải có nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm là 49.311.237 đồng x 5% = 2.466.000 đồng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Căn cứ khoản 1, ñieåm b khoaûn 2 Đieàu 227; khoản 1, khoaûn 3 Đieàu 228; Đieàu 271; Đieàu 272 và Đieàu 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Đieàu 280; Đieàu 463; Đieàu 466 Bộ luật dân sự;
- Căn cứ khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật các tổ chức tín dụng;
- Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử
1. Về dân sự: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn A.
Buộc ông E phải có nghĩa vụ trả cho A số tiền còn thiếu tính đến ngày 13/5/2022 tổng cộng là 49.311.237 đồng (nợ gốc: 26.137.559 đồng, lãi quá hạn: 23.173.678 đồng).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 14/5/2022 ông E còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chĩnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.
2. Về án phí: Buộc ông E phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.466.000 đồng.
Hoàn lại cho A 752.828 đồng tiền tạm ứng án phí mà Ngân hàng đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0042362 ngày 05 tháng 3 năm 2021 của Chi cục Thi hành án Dân sự quận 7, thành phố Hồ Chí Minh.
3. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn và Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND thị xã Cai Lậy; - Chi cục THADS thị xã Cai Lậy; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Kim Thoa |