- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "Ngân hàng TMCP Kiên Long với Lê Văn Lịnh"
- Tòa quyết gì? 1/.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của NH TMCP KL đối với anh LVL và chị TTP về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL TỈNH BL | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2022/DS-ST Ngày: 25/4/2022 (V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng) |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PL, TỈNH BL
Th m ph n - h t a phi n t a: Ông Danh Văn An
c h i th m nh n dân:
1/.Ông Đặng Văn Chiểu
2/.Bà Dương Thị Tú Phương
: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện PL, tỉnh BL.
Đạ d ệ
ệ ể á
â dâ uyệ PL tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên, Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện PL xét xử sơ thẩm công kH vụ án dân sự thụ lý số: 147/2020/TLST- DS ngày 09 tháng 6 năm 2020 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2022/QĐXXST-DS ngày 07 tháng 3 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 35/2022/QĐST-DS ngày 05 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
1/.Nguyên đơn: NH TMCP KL.
Địa chỉ trụ sở chính: 40-42-44, đường PHT, phường VTV, thành phố RG, tỉnh KG.
Người đại diện theo pháp luật: Bà TTA – Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông TTA – Chức vụ: Phó Giám đốc NH TMCP KL - Phòng giao dịch PL - Chi nhánh tỉnh BL.
2/.Đồng bị đơn:
2.1/.Ông LVL, sinh năm 1984.
2.2/.Bà TTP, sinh năm 1985.
Cùng địa chỉ: Ấp P 3B, xã VPĐ, huyện PL, tỉnh BL.
3/.Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
3.1/.Chị LTL, sinh năm 2004.
3.2/.Anh LVC, sinh năm 2006.
Cùng địa chỉ: Ấp P 3B, xã VPĐ, huyện PL, tỉnh BL.
Người đại diện theo pháp luật của chị Lam và anh Chuẩn: Ông LVL và bà TTP.
Cùng địa chỉ: Ấp P 3B, xã VPĐ, huyện PL, tỉnh BL.
3.3/.Ông LVP.
Địa chỉ: Ấp P 3B, xã VPĐ, huyện PL, tỉnh BL.
(Đại diện NH có đơn xin vắng mặt; C c đương sự kh c vắng mặt lần thứ H không
có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 05/5/2020 và các biên bản lấy lời kH, bản tự kH có trong hồ sơ vụ án, người đại diện hợp pháp theo ủy quyền của nguyên đơn NH TMCP KL (sau đây gọi tắt là NH) trình bày:
Trước đây vào ngày 24/10/2017, vợ chồng anh L chị P có ký hợp đồng tín dụng số: 427/2017/HĐTD/0203-5606 với NH TMCP KL để vay số tiền là 170.000.000 đồng. Mục đích vay là để bổ sung vốn trồng lúa, chăn nuôi, thời hạn vay là 12 tháng kể từ ngày vay vốn 25/10/2017, với lãi suất là 12.6%/năm. Lãi suất quá hạn là 150% lãi suất trong hạn khi chuyển qua nợ quá hạn, hình thức trả là 03 tháng/ lần, nợ gốc trả cuối kỳ. NH đã giải ngân cho anh L và chị P số tiền vay 170.000.000 đồng vào ngày 25/10/2017.
Để đảm bảo cho khoản vay trên, anh L chị P đã ký kết thế chấp với NH theo hợp đồng thế chấp số 1331/2016/HĐTC-BĐS/0203-2186 ngày 17/10/2016 là giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất do anh L và chị P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cụ thể như sau: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AQ180688 do UBND huyện PL cấp ngày 01/10/2009; phần đất có diện tích 7.800,0m2, thuộc 427 tờ bản đồ số 10 phần đất tọa lạc tại ấp P 3B, xã VPĐ, huyện PL, tỉnh BL. Việc thế chấp tài sản trên đã được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định pháp luật.
Do anh L chị P đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên đến nay NH đã chuyển toàn bộ số nợ vay trên qua nợ quá hạn. Tính đến nay anh L chị P còn thiếu nợ NH tổng số tiền là 312.222.176 đồng (Trong đó số tiền gốc là 170.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 21.420.000 đồng, tiền lãi quá hạn là 112.499.014 đồng và tiền lãi phạt chậm trả là 8.303.162 đồng). Tạm tính đến ngày 25/4/2022.
Nay NH TMCP KL yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh L và chị P cùng có nghĩa vụ trả cho NH số tiền là 312.222.176 đồng (Ba trăm mười H triệu H trăm H mươi H nghìn một trăm bảy mươi sáu đồng) và yêu cầu tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết trước đây kể từ ngày 26/4/2022 cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp anh L và chị P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, NH yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho NH theo quy định của pháp luật.
Đối với đồng bị đơn anh LVL và chị TTP: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh L và chị P nhưng anh L và chị P không đến Tòa án và cũng không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến trình bày của mình, cũng như không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của NH.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh LVP đã được Tòa án cấp, tống đạt đầy đủ văn bản tố tụng theo quy định pháp luật nhưng P1 không đến Tòa án và không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến của mình.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện PL phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn sơ thẩm như sau:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn là đúng theo quy định của pháp luật. Đối với đồng bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chấp hành chưa nghiêm theo giấy triệu tập của Tòa án tại khoản 15, 16 Điều 70 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: NH TMCP KL yêu cầu anh LVL và chị TTP cùng có nghĩa vụ trả cho NH số tiền là 312.222.176 đồng (Trong đó số tiền gốc là 170.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 21.420.000 đồng, tiền lãi quá hạn là 112.499.014 đồng và tiền lãi phạt chậm trả là 8.303.162 đồng) và yêu cầu tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết trước đây kể từ ngày 26/4/2022 cho đến khi trả hết nợ. Trường hợp anh L và chị P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ, NH yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho NH theo quy định của pháp luật.
Xét thấy, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh L và chị P. Tuy nhiên, anh L và chị P không có ý kiến phản hồi của mình đối với yêu cầu khởi kiện của NH. Từ đó, căn cứ Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự, đây là tình tiết, sự kiện không cần phải chứng minh. Do đó, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của NH đối với anh L và chị P. Buộc anh L và chị P có nghĩa vụ trả nợ cho NH số tiền là 312.222.176 đồng (Trong đó số tiền gốc là 170.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 21.420.000 đồng, tiền lãi quá hạn là 112.499.014 đồng và tiền lãi phạt chậm trả là 8.303.162 đồng) và tiền lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết trước đây kể từ ngày 26/4/2022 cho đến khi trả hết nợ cho NH.
Về việc xử lý tài sản thế chấp: Trong trường hợp anh L và chị P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, NH có quyền yêu cầu xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 1331/2016/HĐTC-BĐS/0203-2186 ngày 17/10/2016 để thu hồi nợ là quyền sử dụng đất thuộc thửa số 427 tờ bản đồ số 10 có diện tích 7.800,0m2 phần đất tọa lạc tại ấp P 3B, xã VPĐ, huyện PL, BL, đất do anh LVL và chị TTP đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Đối với phần đất là tài sản thế chấp theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/7/2020 của Tòa án xác định hiện tại phần đất này do anh LVP đang quản lý sử dụng. Tòa án đã tống đạt văn bản tố tụng cũng như triệu tập anh P1 đến Tòa án để làm việc nhưng anh P1 không hợp tác nên không biết anh P1 quản lý phần đất trên với tư cách gì và có giao dịch gì với anh L và chị P hay không nên yêu cầu tách ra thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu. Buộc anh LVP có nghĩa vụ phải giao lại phần đất thuộc thửa số 427 tờ bản đồ số 10 có diện tích 7.800,0m2 phần đất tọa lạc tại ấp P 3B, xã VPĐ, huyện PL, BL cho anh L và chị P.
Án phí: Anh LVL và chị TTP chịu theo quy định pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
NH khởi kiện về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với anh LVL và chị TTP, bị đơn có địa chỉ cư trú tại huyện PL, tỉnh BL; Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện PL.
Tại phiên tòa hôm nay, đại diện NH có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt. Anh LVL và chị TTP là đồng bị đơn, chị LTL, anh LVC và anh LVP là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt lần thứ H không có lý do.
Căn cứ khoản 1, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử chấp nhận và tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự.
Về nội dung vụ án: Xét yêu cầu khởi kiện của NH TMCP KL về việc buộc anh LVL và chị TTP cùng có nghĩa vụ trả cho NH số tiền vay theo hợp đồng tín dụng số: 427/2017/HĐTD/0203-5606 ngày 24/10/2017, tạm tính đến ngày 25/4/2022 với tổng số tiền là tổng số tiền là 312.222.176 đồng (Trong đó số tiền gốc là 170.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 21.420.000 đồng, tiền lãi quá hạn là 112.499.014 đồng và tiền lãi phạt chậm trả là 8.303.162 đồng) và yêu cầu tính lãi phát sinh theo hợp đồng tín dụng đã ký kết trước đây kể từ ngày 26/4/2022 cho đến khi trả hết nợ.
Để bảo đảm cho khoản vay theo hợp đồng tín dụng số: 427/2017/HĐTD/0203-5606 ngày 17/10/2016 , anh L và chị P đã ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1331/2016/HĐTC-BĐS/0203-2186 với NH TMCP KL. Tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất số: AQ180688 phần đất có diện tích 7.800,0m2, thuộc 427 tờ bản đồ số 10 phần đất tọa lạc tại ấp P 3B, xã VPĐ, huyện PL, tỉnh BL. Do UBND huyện PL cấp ngày 01/10/2009 cho anh L và chị P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Hội đồng xét xử xét thấy: Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành cấp, tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo quy định của pháp luật cho anh L và chị P. Nhưng anh L và chị P không đến Tòa án và không cung cấp văn bản thể hiện ý kiến của mình, cũng như không có văn bản phản đối yêu cầu khởi kiện của NH. Từ đó cho thấy anh L và chị P thừa nhận nghĩa vụ của mình đối với NH nên đây là tình tiết, sự kiện không phải chứng minh theo quy định tại khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự. Do đó, NH yêu cầu anh L và chị P thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho NH tổng số tiền 312.222.176 đồng (Ba trăm mười H triệu H trăm H mươi H nghìn một trăm bảy mươi sáu đồng) là hoàn toàn có căn cứ chấp nhận.
Xét hợp đồng thế chấp tài sản: Để bảo đảm cho khoản vay trên ngày 17/10/2016, anh L và bà P đã ký kết hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 1331/2016/HĐTC-BĐS/0203-2186 với NH TMCP KL, việc NH với anh L và bà P ký kết hợp đồng thế chấp được xác lập trên cơ sở tự nguyện, các bên đương sự đều có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, hợp đồng được lập thành văn bản có chữ ký, xác nhận của các bên, không bị lừa dối, hay cưỡng ép, không trái đạo đức xã hội và đã được công chứng, đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng trình tự, thủ tục của pháp luật về giao dịch bảo đảm. Hợp đồng thế chấp giá trị quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AQ180688 phần đất có diện tích 7.800,0m2, thuộc 427 tờ bản đồ số 10 phần đất tọa lạc tại ấp P 3B, xã VPĐ, huyện PL, tỉnh BL. Do UBND huyện PL cấp ngày 01/10/2009 cho anh L và chị P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Do đã đến hạn thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay nhưng anh LVL và chị TTP không thực hiện đúng theo thỏa thuận giữa các bên với NH là vi phạm nghĩa vụ của bên vay được quy định tại các Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự 2015 nên NH yêu cầu xử lý tài sản thế chấp là phù hợp theo quy định của tại các Điều 295, 297, 298, 317, 318, 319 của Bộ luật dân sự 2015.
Như vậy, Trong trường hợp anh L và chị P không thực hiện nghĩa vụ trả nợ hoặc trả không dứt nợ trong thời gian thỏa thuận hoặc bản án có hiệu lực pháp luật thì NH có quyền yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền xử lý tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 1331/2016/HĐTC-BĐS/0203-2186 ngày 17/10/2016 để thu hồi nợ cho NH là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Xét thấy mức lãi suất trong hạn, lãi quá hạn, các bên thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập là phù hợp với Điều 91, Điều 95 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật các tổ chức tín dụng năm 2017.
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 07/7/2020 của Tòa án thể hiện phần đất là tài sản thế chấp của anh L và chị P đối với NH hiện nay do anh LVP là người đang quản lý, canh tác trên phần đất này. Tòa án đã đưa anh P1 vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án và đã tống đạt văn bản tố tụng cũng như triệu tập anh P1 đến Tòa án để làm việc nhưng anh P1 không hợp tác nên Tòa án không biết được vì sao anh P1 quản lý canh tác trên phần đất và anh P1 với anh L và chị P có giao dịch gì với nhau trên phần đất này hay không. Do anh P1 không hợp tác trong quá trình tố tụng làm ảnh hưởng đến chính quyền lợi của đương sự nên yêu cầu tách ra thành vụ án khác khi đương sự có yêu cầu.
Buộc anh LVP có nghĩa vụ phải giao lại phần đất thuộc thửa số 427 tờ bản đồ số 10 có diện tích 7.800,0m2 phần đất tọa lạc tại ấp P 3B, xã VPĐ, huyện PL, BL cho anh L và chị P phần đất có vị trí tứ cạnh cụ thể như sau:
+ Hướng Đông: Giáp phần đất của ông LHU, ông TVĐ có cạnh dài 28m + 27m + 22m.
+ Hướng Tây: Giáp phần đất của ông H có cạnh dài 18m + 19m + 20m.
+ Hướng Nam: Giáp phần đất của ông TVL có cạnh dài 126m.
+ Hướng Bắc: Giáp phần đất của ông LHU có cạnh dài 74m.
Xét đề nghị của kiểm sát viên là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên được chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm dân sự có giá ngạch: Buộc anh LVL và chị TTP phải nộp số tiền 15.611.000 đồng (Mười lăm triệu sáu trăm mười một nghìn không trăm đồng). NH TMCP KL không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Hoàn lại cho NH số tiền 5.894.700 theo biên lai thu số 0009396 ngày 09/6/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện PL.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 1.250.000 đồng anh Linh và chị P phải chịu. NH không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; NH đã dự nộp chi phí thẩm định tại chỗ số tiền 1.250.000 đồng đã được chuyển thu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Buộc anh L và chị P nộp số tiền 1.250.000 đồng để hoàn trả cho NH.
Vì c c lẽ tr n:
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 92, 147, 227, 228, 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 295, 297, 298, 317, 318, 319, 401, 463 và 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 91, 95 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật các tổ chức tín dụng năm 2017;
Căn cứ Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1/.Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của NH TMCP KL đối với anh LVL và chị TTP về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng.
2/.Buộc anh LVL và chị TTP có nghĩa vụ trả cho NH TMCP KL tổng số tiền là 312.222.176 đồng (Trong đó số tiền gốc là 170.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 21.420.000 đồng, tiền lãi quá hạn là 112.499.014 đồng và tiền lãi phạt chậm trả là 8.303.162 đồng) tạm tính đến ngày 25/4/2022 và anh L và chị P còn phải tiếp tục chịu khoản nợ lãi đối với khoản tiền nợ gốc theo mức lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng số 427/2017/HĐTD/0203-5606 ngày 17/10/2016 cho đến khi thanh toán dứt nợ.
3/.Buộc anh LVP trong thời hạn 04 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật phải có nghĩa vụ giao lại phần đất thuộc thửa số 427 tờ bản đồ số 10 có diện tích 7.800,0m2 phần đất tọa lạc tại ấp P 3B, xã VPĐ, huyện PL, BL cho anh L và chị P phần đất có vị trí tứ cạnh cụ thể như sau:
+ Hướng Đông: Giáp phần đất của ông LHU, ông TVĐ có cạnh dài 28m + 27m + 22m.
+ Hướng Tây: Giáp phần đất của ông H có cạnh dài 18m + 19m + 20m.
+ Hướng Nam: Giáp phần đất của ông TVL có cạnh dài 126m.
+ Hướng Bắc: Giáp phần đất của ông LHU có cạnh dài 74m.
4/.Trong trường hợp anh LVL và chị TTP không thanh toán trả số tiền trên thì NH TMCP KL được quyền yêu cầu cơ quan chức năng có thẩm quyền bán phát mãi tài sản thế chấp theo hợp đồng thế chấp số 1331/2016/HĐTC-BĐS/0203-2186 ngày 17/10/2016 để thu hồi nợ cho NH. Cụ thể là diện tích đất và tài sản gắn liền với đất theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AQ180688 phần đất có diện tích 7.800,0m2, thuộc 427 tờ bản đồ số 10 phần đất tọa lạc tại ấp P 3B, xã VPĐ, huyện PL, tỉnh BL. Do UBND huyện PL cấp ngày 01/10/2009 cho anh L và chị P đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất có vị trí tứ cạnh cụ thể nêu trên.
5/.Về án phí sơ thẩm dân sự có giá ngạch: Buộc anh LVL và chị TTP phải nộp số tiền 15.611.000 đồng (Mười lăm triệu sáu trăm mười một nghìn không trăm đồng). NH TMCP KL không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch. Hoàn lại cho NH số tiền 5.894.700 theo biên lai thu số 0009396 ngày 09/6/2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện PL.
6/.Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ với số tiền là 1.250.000 đồng anh Linh và chị P phải chịu. NH không phải chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ; NH đã dự nộp chi phí thẩm định tại chỗ số tiền 1.250.000 đồng đã được chuyển thu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Buộc anh L và chị P nộp số tiền 1.250.000 đồng để hoàn trả cho NH.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án theo Điều 6; quyền và nghĩa vụ theo các Điều 7, 7a, 7b; tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật thi hành án dân sự.
7/.Án xử sơ thẩm công kH vắng mặt các đương sự, báo cho các đương sự biết được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BL; - VKSND huyện PL; - Chi cục THADS huyện PL; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Danh Văn An |