- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Văn Đ và Nguyễn Thị X - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đ và Nguyễn Thị X phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2021/HSST Ngày: 04-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ N TỈNH NAM ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đức Nguyên.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Cải.
Ông Vũ Thành Dũng.
- Thư ký phiên toà: Ông Hoàng Anh Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố N.
- Đ diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N tham gia phiên tòa: Ông Trần Quang Thành - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2021; tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố N tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 57/2021/TLST-HS ngày 08-02-2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2021/QĐ-HSST ngày 19-02-2021 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Trần Văn Đ - sinh năm 2001 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm H, thôn V, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn H và bà Phạm Thị H; có vợ là Phạm Thị T; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 03 tháng 12 năm 2020 đến ngày 06 tháng 12 năm 2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên toà.
2. Họ và tên: Nguyễn Thị X - sinh năm 1974 tại tỉnh Nam Định; nơi cư trú: Xóm M, thôn P, xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định; nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ và bà Nguyễn Thị U; có chồng và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 03 tháng 12 năm 2020 đến ngày 06 tháng 12 năm 2020 được áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; bị cáo có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trần Văn Đ quen và biết Nguyễn Thị X hàng ngày bán số lô, số đề cho khách nên đặt vấn đề mua lại số lô, số đề của X. Đ và X thỏa thuận cách thức mua bán số lô, số đề qua nhắn tin bằng điện thoại di động.
X chuyển cho Đ số lô trong đó một điểm lô tương ứng với số tiền là 21.650 đồng, X không được hưởng chênh lệch từ việc chuyển số lô cho Đ; đối với số đề Đ trích lại cho X bằng 18,5% số tiền khách mua; đối với số lô xiên ba, Đ trích lại cho X bằng 35% số tiền khách mua; đối với số đề 3 càng, Đ trích lại cho X bằng 25% số tiền khách mua. Nếu số lô, số đề mà X chuyển cho Đ có khách thắng thì Đ sẽ chuyển tiền cho X theo tỷ lệ 80.000 đồng/ 1000 đồng tiền đề và 80.000 đồng/1 điểm lô để trả cho khách. Nếu khách không thắng thì Đ được hưởng số tiền theo bảng số lô, số đề X chuyển cho.
Về phương thức chơi lô, đề:
Đối với số đề, người chơi sẽ chọn một con số bất kỳ từ 00 đến 99 để mua. Sau khi có kết quả xổ số miền Bắc, người chơi đối chiếu với hai số cuối của giải đặc biệt, nếu số đề người chơi mua trùng với hai số cuối cùng của giải đặc biệt thì người chơi thắng và được ăn gấp 80 lần số tiền mà người chơi đã bỏ ra mua số đề, còn nếu không trùng thì người chơi thua.
Đối với số đề ba càng, người chơi sẽ chọn một con số bất kỳ từ 000 đến 999 để mua. Sau khi có kết quả xổ số miền Bắc, người chơi đối chiếu với ba số cuối của giải đặc biệt, nếu số đề ba càng người chơi mua trùng với ba số cuối cùng của giải đặc biệt thì người chơi thắng và được ăn gấp 400 lần số tiền mà người chơi đã bỏ ra mua số đề ba càng, còn nếu không trùng thì người chơi thua.
Đối với chơi số lô, người chơi sẽ chọn một con số bất kỳ từ 00 đến 99 để mua. Sau khi có kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng cùng ngày, người chơi đối chiếu với bảng kết quả xổ số, nếu số lô người chơi mua trùng với hai số cuối cùng của một trong các giải thì người chơi thắng, trùng một lần thì cứ 01 điểm lô được 80.000 đồng, nếu trùng với nhiều giải người chơi sẽ được số tiền bằng số điểm lô nhân với 80.000 đồng và nhân với số giải, ngược lại nếu không có số lô nào trùng với hai số cuối cùng của một trong các giải thì người chơi thua.
Đối với số lô xiên ba, người chơi sẽ chọn 03 số bất kỳ từ 00 đến 99 để mua. Sau khi có kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng cùng ngày, người chơi đối chiếu với bảng kết quả xổ số, nếu 03 số lô người chơi mua trùng với hai số cuối cùng của ba trong các giải thì người chơi thắng và được số tiền gấp 40 lần số tiền mua lô, ngược lại nếu không có số lô nào trùng với hai số cuối cùng của một trong các giải thì người chơi thua.
Trong ngày 13-5-2020, X sử dụng điện thoại di động OPPO A57 màu trắng hồng có lắp sim số 0915003086 đăng nhập tài khoản Zalo có tên “Xnamphong” nhắn tin vào tài khoản Zalo “Đ Trần” được đăng nhập trên điện thoại Iphone 11 màu vàng của Đ với số sim 0911550586 để chuyển các số lô, số đề cụ thể như sau:
X bán số lô, số đề cho khách, sau đó X nhắn tin chuyển lại cho Đ các số đề tương ứng với 2.765.000 đồng tiền đề; 1245 điểm lô, mỗi điểm là 21.650 đồng tương ứng với số tiền là 1245 x 21.650 = 26.954.250 đồng; số lô xiên 3: 23, 32, 51 tương ứng số tiền 500.000 đồng; số đề ba càng 723 tương ứng số tiền 200.000 đồng. Số lô, số đề X chuyển cho Đ tương ứng với tổng số tiền là: 2.765.000 đồng + 26.954.250 đồng + 500.000 đồng + 200.000 đồng = 30.419.250 đồng.
Số tiền công mà X được hưởng từ việc chuyển số lô, số đề cho Đ là: 2.765.000 đồng x 18,5% + 500.000 đồng x 35% + 200.000 đồng x 25% = 736.525 đồng.
Sau khi có kết quả xổ số miền Bắc ngày 13-5-2020, số lô, số đề X chuyển cho Đ trúng số lô 39 = 15 điểm; số lô 55 = 15 điểm, số lô 33 = 100 điểm, tổng là 130 điểm lô. Số tiền lô khách thắng trong ngày là: 130 điểm x 80.000 đồng = 10.400.000 đồng. Tổng số tiền X và Đ đánh bạc trong ngày 13-5-2020 là: 30.419.250 đồng + 10.400.000 đồng = 40.819.250 đồng.
Tiền lô, đề được thua trong ngày X phải đưa lại cho Đ là: 30.419.250 đồng – 10.400.000 đồng – 736.525 đồng = 19.282.725 đồng. Số tiền này X đã thanh toán đủ cho Đ.
Sau khi phát hiện và củng cố tài liệu chứng cứ, ngày 03-12-2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố N ra lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Nguyễn Thị X, Trần Văn Đ. Tại Cơ quan điều tra, Đ, X khai nhận toàn bộ hành vi chuyển bảng số lô, số đề như đã nêu trên.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Nam Định đã thu giữ các vật chứng sau:
+ 01 điện thoại di động OPPO A57 màu trắng hồng, 01 máy tính bảng Ipad Air 2 thu giữ của X (khoảng tháng 7/2020 X chuyển tài khoản Zalo “Xnamphong” sang máy tính bảng).
+ 01 điện thoại di động Iphone 11 màu vàng thu giữ của Đ.
Cơ quan Cảnh sát điều tra đã Quyết định trưng cầu giám định Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định. Tại bản kết luận giám định số 1284/KL-PC09 ngày 23-12-2020 kết luận: không tìm thấy dữ liệu tin nhắn văn bản, Zalo, Facebook messenger trong máy tính bảng Ipad Air 2 và điện thoại OPPO của X; tìm thấy trong điện thoại Iphone 11 của Đ 190 tin nhắn văn bản, 90 tin nhắn Zalo.
Bản cáo trạng số 63/CT-VKSTPNĐ ngày 08-02-2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố N truy tố các bị cáo Trần Văn Đ và Nguyễn Thị X về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà: Bị cáo Trần Văn Đ và bị cáo Nguyễn Thị X xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng ép cung, bức cung hay dùng nhục hình. Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng đã truy tố là đúng và khai nhận biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng do hám lợi nên vẫn thực hiện. Các bị cáo không khai báo thêm tình tiết mới và ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố N luận tội và tranh luận: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo Trần Văn Đ và Nguyễn Thị X theo toàn bộ nội dung bản Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đ và Nguyễn Thị X phạm tội “Đánh bạc”
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65 của Bộ luật Hình sự:
Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ từ 12 tháng tù đến 15 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị X từ 09 tháng tù đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách gấp đôi; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại OPPO A57 màu trắng hồng thu giữ của Nguyễn Thị X, 01 điện thoại Iphone 11 màu vàng thu giữ của Trần Văn Đ. Truy thu Trần Văn Đ số tiền 19.282.725 đồng, Nguyễn Thị X số tiền 736.525 đồng sung Ngân sách Nhà nước. Trả lại cho Nguyễn Thị X 01 máy tính bảng Ipad Air 2 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Các bị cáo nói lời sau cùng: đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Lời khai nhận tội của các bị cáo Trần Văn Đ, Nguyễn Thị X có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa bị cáo đều thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có sự mâu thuẫn và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ như biên bản thu giữ, kiểm tra điện thoại của 02 bị cáo; bản kết luận giám định của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nam Định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ nên đã có đủ cơ sở kết luận: Trong ngày 13-5-2020 Trần Văn Đ, Nguyễn Thị X đã đánh bạc với nhau thông qua việc chuyển bảng mua bán số lô, số đề và sử dụng cách thức giao dịch là nhắn tin qua điện thoại di động bằng ứng dụng Zalo. Số tiền dùng đánh bạc là 40.819.250 đồng. Hành vi phạm tội của các bị cáo, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây mất trật tự an ninh xã hội trên địa bàn thành phố N. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi đánh bạc được thua bằng tiền nhằm thu lợi bất chính của mình là vi phạm pháp luật, bị Nhà nước nghiêm cấm nhưng vì hám lợi vẫn cố ý trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy, việc truy tố và đưa ra xét xử các bị cáo về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là đúng người đúng tội.
Về vị trí, vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này các bị cáo đều thống nhất thực hiện hành vi phạm tội nên là đồng phạm đơn giản. Hội đồng xét xử sẽ căn cứ mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm để Quyết định hình phạt. Xét bị cáo Trần Văn Đ là người mua bán số lô, số đề từ bị cáo X, chịu trách nhiệm thanh toán tiền chơi lô đề cho khách; bị cáo Nguyễn Thị X là người trực tiếp bán số lô, số đề cho khách và hưởng chênh lệch từ việc chuyển số lô, số đề cho Đ. Vì vậy, xếp bị cáo Trần Văn Đ giữ vai trò thứ nhất trong vụ án và có mức hình phạt cao hơn bị cáo Nguyễn Thị X có vai trò thứ hai trong vụ án.
Các tình tiết Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi Quyết định hình phạt đối với các bị cáo:
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Xét thấy các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân tốt. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự, không cần thiết phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt tù nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo, giao các bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng có tác dụng cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
Về hình phạt bổ sung: Xét thấy các bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng: 01 điện thoại OPPO A57 màu trắng hồng thu giữ của Nguyễn Thị X, 01 điện thoại Iphone 11 màu vàng thu giữ của Trần Văn Đ là phương tiện, công cụ phạm tội nên tịch thu sung Ngân sách Nhà nước. Đối với số tiền 19.282.725 đồng Trần Văn Đ chiếm hưởng và số tiền 736.525 đồng Nguyễn Thị X hưởng lợi là tiền do phạm tội mà có nên cần truy thu sung Ngân sách Nhà nước. 01 máy tính bảng Ipad Air 2 là tài sản của Nguyễn Thị X, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo X nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Đối với các hành vi bán số lô, số đề của Nguyễn Thị X cho khách qua đường, Cơ quan điều tra tạm thời tách ra để tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về án phí: Các bị cáo Trần Văn Đ và Nguyễn Thị X bị kết án nên phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 321, điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 65, Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Đ và Nguyễn Thị X phạm tội “Đánh bạc”.
- Xử phạt bị cáo Trần Văn Đ 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách là 30 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 03 tháng 12 năm 2020 đến ngày 06 tháng 12 năm 2020).
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị X 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 24 tháng kể từ ngày tuyên án (Bị cáo đã bị tạm giữ từ ngày 03 tháng 12 năm 2020 đến ngày 06 tháng 12 năm 2020).
- Giao các bị cáo Trần Văn Đ và Nguyễn Thị X cho Ủy ban nhân dân xã N, thành phố N, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách.
- Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
- Trong thời gian thử thách, nếu các bị cáo Trần Văn Đ và Nguyễn Thị X cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định tại Điều 87 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019 thì Tòa án có thể buộc các bị cáo chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo.
2. Xử lý vật chứng: Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước 01 điện thoại OPPO A57 màu trắng hồng thu giữ của Nguyễn Thị X, 01 điện thoại Iphone 11 màu vàng thu giữ của Trần Văn Đ. Truy thu Trần Văn Đ số tiền 19.282.725 đồng, Nguyễn Thị X số tiền 736.525 đồng sung Ngân sách Nhà nước. Trả lại cho Nguyễn Thị X 01 máy tính bảng Ipad Air 2 nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án (Vật chứng có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng ngày 22 tháng 02 năm 2021 giữa Công an thành phố N và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố N).
3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Văn Đ và bị cáo Nguyễn Thị X mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Văn Đ và bị cáo Nguyễn Thị X được quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trong trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người phải thi hành án có quyền tự nguyện thi hành hoặc cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành dân sự./.
| Nơi nhận: - Người tham gia tố tụng; - TAND tỉnh Nam Định; - VKSND TP. N (02 bản); - Công an TP. N; - Chi cục THADS TP. N; - Lưu hồ sơ vụ án + VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đức Nguyên |