vanban.org

Bản án 20/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Cửa Lò, tỉnh Nghệ An Tuyên án 28/04/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hình phạt, tội dA: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt Phan Thị L12(mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; Trừ thời gian 09 ngày tạm giữ vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không gia…

Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày UBND phường NghiHòa, thị xã CL, tỉnh NA nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án. Giao bị cáo Phan Thị Lcho UBND phường Ngh H, thị xã CL, tỉnh NA giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không gia…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Thị Lý đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Về hình phạt, tội dA: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt Phan Thị L12(mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; Trừ thời gian 09 ngày tạm giữ vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không gia…
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ C L
TỈNH NGH A

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20 /2021/HS - ST
Ngày: 28/4/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ C L – TỈNH NGH A

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tr GI.

Các hội thẩm nhân dân: Ông Võ Văn H và bà Nguyễn Thị Ph.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Thị Thúy L–Thư ký Toà án nhân dân thị xã CL, tỉnh NA.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã CL tham gia phiên toà: Ông Phùng Tiến Ch - Kiểm sát viên.

Ngày 28/4/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thị xã CL, tỉnh NA xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 18/2021/TLST - HS ngày 18/4/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2021/QĐXXST – HS ngày 14 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phan Thị L, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nữ. Sinh ngày 25 tháng4 năm 1975 tại thị xã CL, tỉnh NA. Nơi cư trú: khối 3, phường Ngh H, thị xã CL, tỉnh NA. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 08/12. Họ tên cha: Phan Văn Đ (đã chết). Họ tên mẹ: Lê Thị N, sinh năm 1941. A chị em ruột có 04 người,Phan Thị L là con thứ tư. Chồng: Lê Hữu T, sinh năm 1971 và có 02 con, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2005. Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 03/02/2010 bị Công an thị xã CL xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc; Ngày 15/6/2012 bị Công an thị xã CL xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc.

Bị cáoPhan Thị L bị tạm giữ từ ngày 25/01/2021 đến 03/02/2021 và hiện nay đang áp dụng biện pháp “Cấm đi khỏi nơi cư trú” tại phường Ngh H, thị xã CL, tỉnh NA. Có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan:

1. A Lê Đình A, sinh ngày 06 tháng 11 năm 2003.Người đại diện của Lê Đình A bà Nguyễn Thị S, ông Lê Đình T (bố mẹ đẻ).

Đều trú tại: Khối Đ T, phường N T, thị xã CL, tỉnh NA

2. A Nguyễn Trung K, sinh ngày 28 tháng 8 năm 2006. Người đại diện của Nguyễn Trung K bà Hoàng Thị V, ông Nguyễn Văn H (bố mẹ đẻ).

Đều trú tại: Xóm 2 xã Ph Thọ, Huyện Ngh L, tỉnh NA

(Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan và đại diện của họ có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phan Thị L, sinh năm 1975 trú tại khối 3, phường Ngh H, thị xã CL, tỉnh NA là người ký hợp đồng làm đại lý bán vé xổ số kiến thiết cho công ty TNHH một thành viên Nhà nước xổ số kiến thiết NA. Bị cáo đã L dụng việc bán xổ số kiến thiết của Nhà nước để đánh bạc bằng hình thức ghi số lô, số đề tư nhân.

Khoảng 17 giờ ngày 25/01/2021, Phan Thị L đến trước cổng nhà hàng Hoa Biển, thuộc khối 1, phường Ngh T, thị xã CL, tỉnh NA để bán vé xổ số kiến thiết và ghi số lô, đề. Cụ thể: Bán cho Nguyễn Trung K, sinh năm 2006, trú tại xã Ph Thọ, Huyện Ngh L, tỉnh NA các số đề 77, 55, 81, 45, 14 mỗi số 100.000 đồng; số lô 07, 45 mỗi số 50 điểm và 05 điểm lô số 09 với tổng số tiền Phan Thị L nhận từ Nguyễn Trung K là 2.915.500 đồng; Bán cho Lê Đình A, sinh năm 2003 các số lô 12, 71 mỗi số 50 điểm; các số đề 11, 22, 33 mỗi số 100.000 đồngvới tổng số tiền 2.600.000 đồng. Bán cho 04 người đàn ông không rõ lai lịch, thu về số tiền 340.000 đồng; Tổng số tiền Phan Thị L thu được từ hoạt động bán số lô, số đề cho các đối tượng trên là 5.855.500 đồng (năm triệu tám trăm năm mươi lăm nghìn năm trăm đồng).

Vào lúc 17 giờ 45 phút cùng ngày,hành vi bán số lô, số đề của Phan Thị L bị Tổ công tác Công an thị xã CL phát hiện, bắt quả tang. Tang vật thu giữ gồm 03 cáp ghi các số lô, số đề Phan Thị L bán cho Nguyễn Trung K và Lê Đình A và số tiền 8.465.500 đồng (tám triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm đồng); 01 điện thoại di động NOKIA màu tím than, bên trong có sim số 0915.318.143; 01 điện thoại di động NOKIA 2730C màu đen, trắng, bên trong có sim số 0325.924.190 và 01 xe máy nhãn hiệu SH mode màu mận, biển kiểm soát 37S1-099.14. Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã CL tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Phan Thị L. Kết quả khám xét thu giữ tại chỗ ở của Phan Thị L 01 điện thoại di động SAMSUNG GALAXY J7 Prime màu hồng, bên trong có sim số 0356.391.787 của Phan Thị L; 01 điện thoại SAMSUNG GALAXY J7 Pro màu đen, bên trong có sim số 0962.824.966 và 01 điện thoại Titel màu hồng, bên trong có sim số 0914.696.941 của A Lê Hữu T, chồng Phan Thị L,

Ngày 01 tháng 02 năm 2021 Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh NA kết luận: Số tiền 8.465.500 đồng (Tám triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm đồng) thu giữ của Phan Thị L do Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã CL trưng cầu giám định là tiền thật do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành.

Tại Cơ quan điều tra Công an thị xã CL Phan Thị L thừa nhận hành vi phạm tội của mình. Tổng số tiền 8.465.500 đồng (Tám triệu bốn trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm đồng) bị lực lượng công an thị xã CL thu giữ có 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) là tiền Phan Thị L bán vé xổ số kiến thiết do Công ty THHH một thành viên Nhà nước xổ số kiến thiết NA phát hành ngày 25/01/2021; số tiền 5.515.500 đồng là tiền bị cáo đánh bạc với Nguyễn Trung K và Lê Đình A; số tiền 340.000đ là tiền bị cáo bán cho 4 nguoif đàn ông không quen biết trong ngày 21/01/2021; số tiền 2.310.000 đồng còn lại là tiền Phan Thị L thu được từ hoạt động bán số lô, số đề của những ngày trước đó cho đến khi bị phát hiện, bắt quả tang.

Bản cáo trạng số 24/CT-VKS-TXCL ngày 06/4/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã CL, tỉnh NA đã truy tố bị cáo Phan Thị L về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã CL giữ nguyên quan điểm như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật hình sự xử phạt Phan Thị L từ12 đên 15 tháng Cải tạo không giam giữ về tội Đánh bạc, được trừ 09 ngày tạm giữ cho bị cáo.

Bị cáo có gia đình riêng, có tài sản nhà, đất, xe máy trị giá trên 1 tỉ đồng, thu nhập bình quân 2.000.000đ/ tháng nên đề nghị khấu trừ thu nhập bị cáo mỗi tháng 5 - 10% thu nhập. Không áp dụng phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng, án phí: đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáokhông trA luận gì mà chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được trA tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thị xã CL, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã CL, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều được thực hiện hợp pháp.

. Về việc vắng mặt của người có quyền L, nghĩa vụ liên quan và đại diện: Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập phiên tòa cho người có quyền L, nghĩa vụ liên quan và đại diện, họ có đơn xin xét xử vắng mặt; mặt khác lời khai của họ đã đầy đủ tại hồ sơ. Việc vắng mặt của người có quyền L, nghĩa vụ liên quan và đại diện không ảnh hưởng đến việc xét xử; do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vắng mặt người có quyền L, nghĩa vụ liên quan và đại diện.

. Về căn cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã quy kết. Xét, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai nhận củabị cáo trong quá trình điều tra, với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai người có quyền L, nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận:Vào khoảng 17 giờ 45 phút ngày 25/01/2021, tại khu vực khối 1, phường Ngh T, thị xã CL, NA. Tổ công tác Công an thị xã CL phát hiện bắt quả tang Phan Thị L, sinh ngày 25/4/1975 đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô,số số đề tư nhân với Nguyễn Trung K và Lê Đình A với số tiền 5.515.500đ(năm triệu năm trăm mười lăm nghìn năm trăm đồng).Hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số lô, đề của bị cáo Phan Thị L đã đủ yếu tố cấu thành tội "Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.

. Về tính chất vụ án; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Vụ án thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; mặc dù hành vi phạm tội của bị cáo nguy hiểm không lớn cho xã hội, nhưng đã xâm phạm đến an toàn, trật tự công cộng. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi ghi số lô, số đề Nhà nước cấm nhưng vì hám L nên vẫn thực hiện hành vi. Bị cáo đã hai lần bị xử lý hành chính về hành vi Đánh bạc nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân nên cần xét xử nghiêm để cải tạo, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải;bị cáo có mẹ ruột bà Lê Thị N là người có công với cách mạng được tặng Huân Ch kháng chiến hạng nhất nên cần áp dụng điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ thấy chưa cần thiết pH cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà chỉ cần xử phạt bị cáo mức hình phạt cải tạo tại địa phương cũng đủ nghiêm.Qua xác minh của Công an thị xã CL bị cáo có tài sản cá nhân có giá trị trên 01 tỉ đồng; bị cáo lao động tự do, thu nhập khoảng 2.000.000/tháng nên khấu trừ thu nhập 5%/tháng đối với bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

. Về xử lý vật chứng:

- Tổng số tiền thu của bị cáo là 8.465.500đ(tám triệu bốn trăm sáu lăm nghìn năm trăm đồng). Trong đó số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) là tiền bị cáo bán vé xổ số kiến thiết do Công ty TNHH một thành viên Nhà nước xổ số kiến thiết NA phát hành ngày 25/01/2021 không liên quan đến việc đánh bạc nên trả lại cho bị cáo Phan Thị L.Số tiền 5.515.500đ (năm triệu năm trăm mười lăm nghìn năm trăm đồng) bị cáo đánh bạc với Nguyễn Trung K, Lê Đình A và số tiền 2.650.000đ (hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng)bị cáo có được do hành vi đánh bạc của ngày 25/01/2021 và những ngày trước đó cho đến thời điểm bị phát hiện là tiền do phạm tội mà có nên cần tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.

(Số tiền này hiện đang được tạm gửi vào tài khoản số 9911 theo phiếu nhập kho ngày 04/02/2021 của kho bạc thị xã CL, tỉnh NA )

- Một cáp đề bằng giấy ghi các số: x12-50đ, x71-50đ, Đ22-110, 11-110, 33-110; 5S=260/25/01 thu giữ của Lê Đình A đang lưu tại hồ sơ.

- Một cáp đề bằng giấy ghi các số: 45,14/110, 2S=20/25/01 và một cáp đề bằng giấy ghi các số: 77,55,81/110, x07x45/50đ, x09-5đ; 6S=271/25/01 thu giữ của Nguyễn Trung K đang lưu tại hồ sơ.

- Một điện thoại di động NOKIA màu tím than, bên trong có sim số 0915.318.143; 01 điện thoại di động NOKIA 2730 C màu đen, trắng, bên trong có sim số 0325.924.190 thu giữ của bị cáo lúc bị phát hiện, bắt quả tang. Qúa trình điều tra xác định bị cáokhông sử dụng 02 chiếc điện thoại trên thực hiện hành viđánh bạc. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã CL đã trả các tài sản trên cho bị cáo.

- Một điện thoại di động SAMSUNG GALAXY J7 Prime màu hồng, bên trong có sim số 0356.391.787 thu giữ tại chỗ ở của bị cáo. Qúa trình điều tra xác định bị cáokhông sử dụng chiếc điện thoại trên thực hiện hành viđánh bạc. Cơquan Cảnh sát điều tra Công an thị xã CL đã trả tài sản trên cho bị cáo.

- Một xe máy nhãn hiệu SH mode màu mận, biển số 37S1-099.14 thu giữ của bị cáo. Tuy nhiên bị cáo không sử dụng tài sản trên để thực hiện hành viđánh bạc nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã CL đã trả tài sản trên cho Phan Thị L.

- Một điện thoại SAMSUNG GALAXY J7 Pro màu đen, bên trong có sim số 0962.824.966 và 01 điện thoại Titel màu hồng, bên trong có sim số 0914.696.941 thu giữ trong quá trình khám xét khẩn cấp chỗ ở của bị cáo. Quá trình điều tra xác định 02 chiếc điện thoại trên là của A Lê Hữu T và không liên quan đến hành viđánh bạc của bị cáo. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã CL đã trả tài sản trên cho A Lê Hữu T.

Việc trả lại các tài sản trên cho bị cáo Phan Thị L và A Lê Hữu T của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã CL là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Đối với Nguyễn Trung K và Lê Đình A có hành vi Đánh bạc bằng hình thức mua số lô, số đề với số tiền dưới 05 triệu đồng, K và A dưới 18 tuổi, chưa có tiền án, tiền sự liên quan đến hành vi đánh bạc. Hành vi của Nguyễn Trung K và Lê Đình A không cấu thành tội phạm. Do đó, Công an thị xã CL đã ra quyết định xử phạt đối với Nguyễn Trung K và Lê Đình A theo quy định của pháp luật.

Đối với một số đối tượng mà bị cáo khai đã mua số lô, số đề của bị cáo ngày 25 tháng 01 năm 2021, cơ quan điều tra Công an thị xã CL đã tiến điều tra, xác minh nhưng không xác định được tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ để xử lý.

. Về án phí: Bị cáo pH chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về hình phạt, tội dA: Căn cứ vào khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt Phan Thị L12(mười hai) tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”; Trừ thời gian 09 ngày tạm giữ vào thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ cho bị cáo (01 ngày tạm giữ bằng 03 ngày cải tạo không giam giữ). Khấu trừ thu nhậpbị cáo mỗi tháng 5% /2.000.000đ.

Thời hạn chấp hành hình phạt cải tạo không giam giữ của bị cáo được tính từ ngày UBND phường NghiHòa, thị xã CL, tỉnh NA nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Phan Thị Lcho UBND phường Ngh H, thị xã CL, tỉnh NA giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước số tiền 8.165.500đ(Tám triệu một trăm sáu lăm nghìn năm trăm đồng). Trả lại cho bị cáo số tiền 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng).

(Số tiền này hiện đang được tạm gửi vào tài khoản số 9911 theo phiếu nhập kho ngày 04/02/2021 của kho bạc thị xã CL, tỉnh NA)

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự;khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáoPhan Thị LpH chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Người có quyền L, nghĩa vụ liên quan và người đại diện có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định./.

Cỡ chữ