vanban.org

Bản án 20/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tuy Đức, tỉnh Đắk Nông Tuyên án 31/08/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

r trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/5/2021. Về vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; căn Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Q - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY ĐỨC
TỈNH ĐẮK NÔNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2021/HS-ST
Ngày 31 - 8 - 2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY ĐỨC, TỈNH ĐẮK NÔNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Triệu.

d

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lưu Ngọc Khoa và ông Vũ Đức Minh.

e

- Thư ký phiên tòa: Ông Nông Văn Nhu là Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức.

r

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tham gia phiên toà:

e Bà Nguyễn Thị Văn – Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy Đức mở

t phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 25/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 8 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩms số:19/2021/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:

i

Nguyễn Văn Q, sinh năm 1971 tại tỉnh Nam Định; Nơi cư trú: C2, TĐ 720, xã ĐNg, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông; Trình độ văn hóa: 7/12; Nghề nghiệp:g làm nông; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; con ông

e Nguyễn Văn Nh (đã chết) và bà Lê Thị M (đã chết); có vợ là Cao Thị H và 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2013;bị bắt tạm giữ từ ngày

R 06/5/2021, sau đó chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam – Có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:n

Chị Cao Thị H.

Địa chỉ: C2 TĐ 720, xã ĐNg, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông – Vắng mặt.U

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Văn Q là đối tượng nghiện ma túy nên vào khoảng 10 giờ ngày 06/5/2021, Nguyễn Văn Q điều khiển xe mô tô nhãn hiệu WEMVIPI biển kiểm soát 70L2 – 2710 đến bản NH, xã ĐNg để mua ma túy về sử dụng. Khi đến ngã ba thuộc bản NH thì Q gặp và nhờ người đàn ông dân tộc H’Mông khoảng 40 tuổi (không rõ nhân thân lai lịch) đi mua ma túy giùm. Người đàn ông nhận 100.000 đồng của Q rồi đi khoảng 15 phút quay lại chỗ Q đang đứng đợi và đưa cho Q 01 gói được bọc trong tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng. Sau khi nhận gói ma túy Q cất vào tất chân bên phải rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Khi đi đến đoạn đường thuộc bon ĐĐ, xã ĐNg, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông thì bị Công an huyện Tuy Đức phối hợp với Công an xã Đắk Ngo bắt quả tang cùng tang vật. Tại hiện trường thu giữ của Nguyễn Văn Q 01 gói được bọc trong tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng bên trong có 01 gói ni lon màu xanh có chứa chất rắn màu trắng và 01 cục chất rắn màu trắng nghi là ma túy; 01 xe mô tô nhãn hiệu WEMVIPI biển kiểm soát 70L2 – 2710; 01 ống xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu trắng.

Tại bản Kết luận giám định số: 61/KLMT-PC09 ngày 12/5/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận:

- Chất rắn màu trắng đựng trong 01 tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng được niêm phong trong bì thư gửi đến giám định là ma túy, là Heroine, có khối lượng là 0,0574 gam.

- Chất rắn màu trắng đựng trong 01 gói nilon màu xanh niêm phong trong

d bì thư gửi đến giám định là ma túy, là Heroine, có khối lượng là 0,0841 gam.

e

Tổng khối lượng ma túy là 0,1415gam, hoàn lại sau giám định là 0,0972 gam.

Cáo trạng số: 26/CTr-VKS ngày 06/8/2021 của Viện trưởng Viện kiểm sátr nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội:“Tàng trữ trái

e phép chất ma túy”theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Nguyễn Văn Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như tại Cơ

t quan điều tra và thừa nhận Cáo trạng của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức truy tố bị cáo về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túys

” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự là đúng, không oan.

i

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễng Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”. Áp dụng điểm c khoản 1

e Điều 249 của Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Thời hạn

R chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/5/2021.

Về xử lý vật chứng:n Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

U

Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy0,0972gam ma túy là Hêrôin (hoàn lại sau giám định) và 01 ống xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng.

Tịch thu sung quỹ Nhà nước tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng.

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức đã trả lại chiếc xe mô tô nhãn hiệu WEMVIPI biểm kiểm soát 70L2 – 2710; 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Cao Thị H.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn Q không bào chữa gì về hành vi phạm tội của mình chỉ đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Tuy Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với tài liệu, chứng cứ được thu thập lưu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên tòa và phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án, thể hiện: Vào khoảng 11 giờ ngày 06/5/2021 tại bon ĐĐ, xã ĐNg, huyện TĐ, tỉnh Đắk Nông, Công an huyện Tuy Đức đã bắt quả tang Nguyễn Văn Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là Heroine với khối lượng là 01415gam. Do vậy, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để kết luận bị cáod Nguyễn Văn Q phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c

e khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự. Quan điểm truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức là có căn cứ pháp luật.

r

Tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định:

e

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các

t trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

s

a) …

...

i

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-

g

11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam.”

e

Xét thấy, hành vi phạm tội do bị cáo Nguyễn Văn Q gây ra là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý nhà nước về

R các chất ma túy, làm ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Bị cáo nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị Nhà nước nghiêm cấm và bị trừngn trị nghiêm khắc nhưng do ý thức xem thường pháp luật nên bị cáo vẫn cố tình

U thực hiện. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt đủ nghiêm tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Về tình tiết định khung hình phạt, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có; Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy bị cáo là người có nhân thân tốt, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, cần áp dụng khi quyết định hình phạt đối với bị cáo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện cũng như nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định thì mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

Xét quan điểm đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tuy Đức tại phiên tòa về tội danh, hình phạt, xử lý vật chứng và các vấn đề khác là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Đối với người đàn ông dân tộc H’Mông (không xác định được nhân thân lai lịch) mua ma túy giùm Q, Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức tách ra tiếp tục xác minh, khi có căn cứ xử lý sau, cần chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

d

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

e

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội:“Tàng trữ

r trái phép chất ma túy”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 06/5/2021.

e

2. Về vật chứng: Áp dụng điểm b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; căn

t cứ điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

s

Tịch thu tiêu hủy 0,0972gam ma túy là Heroine (hoàn lại sau giám định) và 01 ống xi lanh kim tiêm đã qua sử dụng.

i

Tịch thu sung quỹ Nhà nước tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng.

g

(Vật chứng có đặc điểm như trong biên bản thu giữ vật chứng giữa Cơ

e quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tuy Đức và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy Đức).

R

Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT Công an huyện Tuy Đức đã trả lại chiếc xe

n mô tô nhãn hiệu WEMVIPI biểm kiểm soát 70L2 – 2710, 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu trắng cho chủ sở hữu hợp pháp là chị Cao Thị H.U

3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án liên quan đến quyền, nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

Cỡ chữ