- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn Tr- Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM TỈNH H1 NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2021/HS-ST Ngày: 25 - 3 - 2021. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH LIÊM - TỈNH H1 NAM
- TH1nh phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Quang Ái;
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Thế Quý và ông Quách Xuân Luyện.
- Thư ký phiên toà: ông Vũ Hoàng Anh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh H1 Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm tham gia phiên toà: ông Vũ Đình Tưởng - Kiểm sát V.
Ngày 25 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm, tỉnh H1 Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 11/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 02 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 3 năm 2021, đối với bị cáo:
Phạm Văn T - sinh năm 1993; nơi cư trú: thôn Tr HH, xã Thanh H, huyện TL, tỉnh H1 Nam; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn Đ (đã chết) và bà Đỗ Thị Đ; vợ con: chưa có; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 21/12/2020 đến ngày 27/12/2020 chuyển tạm giam, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh H1 Nam; có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Chị Trần Thị V (Trần Thị Kim V) - sinh năm 1979, vắng mặt;
2. Anh Đinh Đình H1 - sinh năm 1978, vắng mặt;
Cùng nơi cư trú: thôn HP, xã GS, huyện NQ, tỉnh Ninh Bình.
* Người chứng kiến: ông Bùi Ngọc Th - sinh năm 1956; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Văn T là đối tượng nghiện ma túy và làm công nhân trong Công ty TNHH Bắc H1, địa chỉ: thôn BL, xã TN, huyện TL, tỉnh H1 Nam. Do có nhu cầu sử dụng ma túy, nên khoảng 10 giờ 30 phút ngày 21/12/2020, khi đang nghỉ trưa ở Công ty thì Trọng nói với anh Đinh Đình H1 (người làm cùng công ty)“Em không có xe anh chở em đi ra ngoài này có tí việc”, anh H1 đồng ý và lấy xe mô tô biển kiểm soát 35FA-6893 chở Trọng và đi theo sự chỉ dẫn của Trọng đến khu vực đoạn đường Xuân TH1nh thuộc địa phận xã LS, huyện Thanh Liêm thì Trọng bảo anh H1 dừng xe lại và đứng đợi, còn Trọng xuống xe đi bộ đến một ngôi nH1 cách chỗ anh H1 đang đứng khoảng 40 mét (ngôi nH1 này Trọng được người bạn nghiện giới thiệu có người bán ma túy, Trọng không biết là nH1 của ai). Trọng đứng ngoài cổng ngôi nH1 gọi “Anh ơi, bán cho em một cái”, ý Trọng muốn hỏi mua ma túy thì một người thanh niên từ trong nH1 đi ra gặp Trọng, Trọng nói “Cho em một cái” rồi Trọng lấy 100.000 đồng đưa cho người thanh niên, người này cầm tiền rồi đưa lại cho Trọng 01 đoạn ống nhựa màu đen H1n kín hai đầu; biết là ma túy, nên Trọng cất vào túi áo khoác bên trái đang mặc, rồi đi bộ quay lại chỗ anh H1 đứng đợi và bảo anh H1 chở về công ty. Đến khoảng 11 giờ 15 phút cùng ngày, khi anh H1 điều khiển xe mô tô chở Trọng đi đến đoạn đường ĐT 495 thuộc địa phận thôn Chanh Thượng, xã LS, huyện Thanh Liêm, tỉnh H1 Nam thì bị lực lượng Công an huyện Thanh Liêm phối hợp với Công an xã LS phát hiện, kiểm tra bắt quả tang.
+ Tài sản, vật chứng thu giữ khi bắt quả tang gồm: thu giữ trong túi áo khoác của Phạm Văn T đang mặc 01 đoạn ống nhựa màu đen H1n kín hai đầu bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục được niêm phong ký hiệu QT01 và 01 xe mô tô biển kiểm soát 35FA-6893, bên trong cốp xe có 01 một dao nhọn bằng kim loại, chuôi dao bằng gỗ, kích thước lưỡi dao dài 30 cm, rộng 04 cm.
Tiến H1nh khám xét khẩn cấp nơi ở của Phạm Văn T; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Liêm không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại bản kết luận giám định số 251/PC09-MT ngày 25/12/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh H1 Nam, kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,151g (không phẩy một trăm năm mươi mốt gam) loại Heroine”.
+ Về xử lý vật chứng: quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Liêm đã trả lại cho chị Trần Thị V (vợ anh Đinh Đình H1) 01 xe mô tô biển kiểm soát 35FA-6893 và trả lại anh Đinh Đình H1 01 con dao nhọn bằng kim loại chuôi dao bằng gỗ.
Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKSTL ngày 04/02/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Liêm đã truy tố Phạm Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
* Tại phiên toà:
- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 50 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự - xử phạt Phạm Văn T từ 18 đến 24 tháng tù; miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Xử lý vật chứng: tịch thu, tiêu hủy lượng Heroine hoàn lại sau giám định.
- Bị cáo Phạm Văn T đã tH1nh khẩn khai nhận toàn bộ H1nh vi phạm tội của mình và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về H1nh vi, quyết định tố tụng của Điều tra V, Kiểm sát V trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về H1nh vi, quyết định của người tiến H1nh tố tụng. Do đó, các H1nh vi, quyết định tố tụng của người tiến H1nh tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên toà cũng như tại Cơ quan điều tra, Phạm Văn T đã khai nhận toàn bộ H1nh vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo được thẩm tra tại phiên tòa phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: khoảng 11 giờ 15 phút ngày 21/12/2020, tại khu vực đoạn đường ĐT 495 thuộc địa phận thôn Chanh Thượng, xã LS, huyện Thanh Liêm, tỉnh H1 Nam; lực lượng Công an huyện Thanh Liêm phối hợp với Công an xã LS phát hiện bắt quả tang Phạm Văn T có H1nh vi tàng trữ trái phép 0,151 gam Heroine với mục đích để sử dụng cho bản thân.
H1nh vi tàng trữ trái phép Heroine của Phạm Văn T là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến chính sách của NH1 nước về quản lý các chất gây nghiện, làm ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, trật tự tại địa phương. Bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, lượng Heroine mà bị cáo tàng trữ có khối lượng là trên 0,1 gam và dưới 05 gam. H1nh vi nêu trên của bị cáo đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
Xét về nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự thấy rằng:
Về nhân thân: bị cáo là người nghiện ma túy, chưa có tiền án tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
Về tình tiết giảm nhẹ: bị cáo có thái độ tH1nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bố đẻ bị cáo là thương binh, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận, nên Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Qua xem xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tính chất, mức độ H1nh vi phạm tội của bị cáo; Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.
Về hình phạt bổ sung: xét thấy bị cáo là người nghiện ma túy, lao động tự do, không có thu nhập ổn định, nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Về nguồn gốc số ma túy thu giữ và người trong ngôi nH1 đã bán ma túy cho Trọng: căn cứ lời khai của Trọng, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Liêm đã phối hợp với Công an xã LS điều tra, xác minh xong không xác định được người bán ma túy cho Trọng và ngôi nH1 Trọng đã đến mua ma túy là của ai. Ngoài lời khai của Trọng, không còn tài liệu chứng cứ nào khác chứng minh, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Liêm không có căn cứ làm rõ nguồn gốc số ma túy đã thu giữ cũng người bán ma túy cho Trọng và ngôi nH1 Trọng đã đến mua ma túy.
Đối với anh Đinh Đình H1, là người chở Trọng đi mua ma túy: quá trình điều tra xác định anh H1 không góp tiền, không bàn bạc thống nhất và không biết Trọng đi mua, tàng trữ ma túy, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Liêm không xem xét xử lý đối với anh Đinh Đình H1 là phù hợp pháp luật.
Về xử lý vật chứng: đối với lượng Heroine hoàn lại sau giám định thuộc loại NH1 nước cấm tàng trữ, lưu H1nh, không còn giá trị nên tịch thu tiêu hủy. Đối với xe mô tô biển kiểm soát 35FA-6893 và 01 con dao nhọn bằng kim loại chuôi dao bằng gỗ: quá trình điều tra xác định, chiếc xe mô tô biển kiểm soát 35FA-6893 là tài sản hợp pháp của vợ chồng anh Đinh Đình H1 và chị Trần Thị V do chị Trần Thị V đứng tên chủ xe; 01 con dao nhọn bằng kim loại chuôi dao bằng gỗ là tài sản hợp pháp của anh Đinh Đình H1, anh H1 mang theo để cắt dây điện khi đi làm ở công trình. Do vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Liêm đã trả lại xe mô tô biển kiểm soát 35FA- 6893 cho chị Trần Thị V và trả lại 01 con dao cho anh Đinh Đình H1 là phù hợp pháp luật.
Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 47, Điều 38 của Bộ luật Hình sự; các điều 106 và 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội,
1. Tuyên bố: bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
+ Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 22 (hai mươi hai) tháng tù, thời hạn chấp H1nh hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ là 21/12/2020.
2. Xử lý vật chứng: tịch thu tiêu hủy lượng Heroine hoàn lại sau giám định trong phong bì niêm phong số 251/PC09-MT (tình trạng vật chứng như trong Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 05/02/2021, giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Thanh Liêm với Chi cục Thi H1nh án Dân sự huyện Thanh Liêm).
3. Án phí: bị cáo Phạm Văn T phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo đối với bản án: bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi H1nh theo quy định tại Điều 2 Luật Thi H1nh án dân sự thì người được thi H1nh án dân sự, người phải thi H1nh án dân sự có quyền thỏa thuận thi H1nh án, quyền yêu cầu thi H1nh án, tự nguyện thi H1nh án hoặc bị cưỡng chế thi H1nh án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi H1nh án dân sự; thời hiệu thi H1nh án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi H1nh án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh H1 Nam; - VKSND tỉnh H1 Nam; - VKSND huyện Thanh Liêm; - Công an huyện Thanh Liêm; - Chi cục THA DS huyện Thanh Liêm; - Trại tạm giam Công an tỉnh H1 Nam; - Sở Tư pháp tỉnh H1 Nam; - Cổng thông tin điện tử của Tòa án; - Bị cáo; - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Quang Ái |