- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hình sự sơ thẩm - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lâm Quang T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
- Căn cứ chính? Điều 260 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NH TỈNH QUẢNG NGÃI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2021/HS-ST Ngày 25- 8- 2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NH, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Thanh Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đợi
Ông Trần Xi Noa
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thu Nha – Thư ký Tòa án nhân dân huyện NH.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NH tham gia phiên tòa: Ông Võ Duy Khải – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 8 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện NH xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 15/2021/TLST-HS, ngày 06-7-2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 283/2021/QĐXXST-HS, ngày 12-8-2021, đối với bị cáo:
LÂM QUANG T, sinh ngày 27 tháng 7 năm 1999, nơi sinh: Huyện MD, tỉnh Quảng Ngãi, trú tại: Thôn 5 xã DC, huyện MD, tỉnh Quảng Ngãi; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Trình độ văn hóa (học vấn): 07/12: Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Không xác định, Mẹ: bà Lâm Thị V (sinh năm 1964); Vợ: Ngô Thị Thu H (sinh năm 1999), có một con sinh năm 2020; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 29/3/2021 đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Bị hại:
- Anh Điệp Văn N, sinh năm 1992 ( Đã chết)
Người đại diện theo pháp luật của bị hại: Ông Điệp Tấn Q (sinh năm 1969) và bà Nguyễn Thị Lan C (sinh năm 1967), đều trú tại: Thôn HT, xã HP, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi, là cha, mẹ của bị hại.
Ông Q và bà C có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Anh Điệp Văn T1, sinh năm 1994
Trú tại: Thôn HT, xã HP, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi.
Anh T1 có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời làm chứng
Chị Nguyễn Thị Cẩm L, sinh năm 2002
Trú tại: Thôn AT, xã HP, huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi.
Chị L vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 00 phút ngày 13/02/2021, Lâm Quang T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76Z1-7909 đi từ nhà (thôn 5 xã DC, huyện MD) đến thôn ĐX, xã M, huyện NH để thăm vợ và con, tại đây, T có uống 02 lon bia Dung Quất. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, T điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76Z1-7909 để đi về nhà ở thôn 5 xã DC, T đi theo hướng từ Tây sang Đông, đến đoạn đường Tỉnh lộ 624B thuộc thôn R, xã M, huyện NH thì T điều khiển xe mô tô đi sang phần đường phía Bắc dẫn đến va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 76F1-204.54 di chuyển ngược chiều theo hướng từ Đông sang Tây do anh Điệp Văn N điều khiển. Hậu quả: Hai xe mô tô hư hỏng, anh Điệp Văn N bị thương tích nặng được đưa cấp cứu tại Bệnh viện Đà Nẵng, đến ngày 14/02/2021 thì anh Điệp Văn N chết, Lâm Quang T bị thương tích phải điều trị tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Ngãi, đến ngày 17/02/2021 T xuất viện.
Tại bản kết luận giám định số 194/KLGĐ-PC09 ngày 20/02/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận về nguyên nhân chết của anh Điệp Văn N là: bị đa thương tích, chấn thương sọ não, rạn nứt xương hộp sọ, xuất huyết não dẫn đến chết.
Bản thân bị cáo Lâm Quang T bị xuất huyết dưới nhện, gãy cung tiếp gò má trái, vỡ lún thành xoang hàm trái, gãy xương đòn phải, vết thương phần mềm vùng gối trái và niêm mạc môi. Tại bản kết luận giám định số 85/TgT ngày 09/4/2021 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Quảng Ngãi, kết luận tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị cáo Lâm Quang T là 30%.
Tại Bản kết luận giám định số 217/KLGĐ-PC09 ngày 15/3/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Quảng Ngãi, kết luận:
- Điểm va chạm đầu tiên giữa hai phương tiện là bánh trước xe mô tô 76F1-204.54 (tạo dấu vết bám dính chất lạ màu trắng, trầy xước và vớ khuyết kim loại ở lốp, vành bánh trước) với mặt trước đầu phuộc trước bên trái xe mô tô 76Z1-7909 (tạo ra dấu vết chà sát, trầy xước kim loại KT (5x4)cm).
- Vị trí va chạm đầu tiên trên mặt đường giữa xe mô tô 76Z1-7909 với xe mô tô 76F1 204.54 là khu vực đầu phía Tây dấu vết trầy xước mặt đường (ký hiệu V1), thuộc phần đường phía Bắc.
- Ngay sau khi va chạm, xe mô tô 76Z1-7909 ngã nghiêng qua bên phải, mặt dưới cần chân thắng (ngay điểm cong) chà sát với mặt đường tạo dấu vết trầy xước mặt đường (ký hiệu V1) và ống phuộc trước bị gãy rời, nhớt bên trong ống phuộc phun ra tạo vùng dịch màu nâu (nhớt) có chiều hướng từ Tây Bắc sang Đông Nam (ký hiệu V2). Vùng các mảnh nhựa vỡ KT (3,3x2,2)m (ký kiệu V3) là do 2 xe môt tô 76Z1-7909 và 76F1-204.54 va chạm với nhau ở bên trái thân xe để lại.
Tại công văn số 720/SGTVT-QLVTPT&NL ngày 07/4/2021, Sở giao thông vận tải tỉnh Quảng Ngãi đã trả lời: Sở giao thông vận tải tỉnh Quảng Ngãi không cấp giấy phép lái xe mô tô hạng A1, A2, A3 cho Lâm Quang T.
Theo hồ sơ bệnh án của Bệnh viện đa khoa Quảng Ngãi vào lúc 03 giờ 48 phút ngày 14/02/2021, xác định định lượng cồn trong máu của Lâm Quang T là 158mg/dl máu.
Xe mô tô biển kiểm soát 76Z1-7909 mà bị cáo Lâm Quang T điều khiển vào ngày 13/02/2021 có dung tích xi lanh là 107cm3.
Từ kết quả điều tra và lời khai của bị cáo tại phiên tòa có đủ cơ sở để xác định bị cáo Lâm Quang T đã vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Cáo trạng số 17/CT-VKS-NH, ngày 05/7/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện NH, tỉnh Quảng Ngãi đã quyết định truy tố bị cáo Lâm Quang T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại các điểm a,b khoản 02 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, kiểm sát viên thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố: bị cáo Lâm Quang T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a, b Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lâm Quang T từ ba năm sáu tháng đến bốn năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
- Về tránh nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584, 585, 586, 589, 591 Bộ luật dân sự tuyên buộc bị cáo Lâm Quang T phải bồi thường cho ông Điệp Tấn Q, bà Nguyễn Thị Lan C và anh Điệp Văn T1 tổng số tiền 89.000.000đồng.
- Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Lâm Quang T một chiếc xe mô tô nhãn hiệu Maxway, loại C110, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 76Z1-7909, tình trạng đã qua sử dụng.
- Về án phí: Bị cáo Lâm Quang T phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Quang T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời nói sau cùng bị cáo xin lỗi gia đình bị hại và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án; căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng hình sự; kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được quy định tại Điều 42 Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo và những người tham gia tố tụng không khiếu nại hành vi, quyết định tố tụng gì của điều tra viên, kiểm sát viên. Do đó, trình tự, thủ tục tố tụng trong vụ án là hợp pháp.
Về nội dung: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lâm Quang T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như nội dung vụ án. Lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lâm Quang T là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức, mặc dù không được cấp giấy phép lái xe theo quy định và đã sử dụng bia nhưng vào ngày 13/02/2021 bị cáo Lâm Quang T vẫn điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 76Z1-7909 tham gia giao thông đường bộ đi không đúng làn đường, phần đường của mình, dẫn đến gây ra vụ tai nạn giao thông xâm phạm đến tính mạng của anh Điệp Văn N.
Hành vi của bị cáo Lâm Quang T đã gây nguy hiểm cho người và phương tiện khác, vi phạm quy định tại khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 17 Luật giao thông đường bộ và hành vi điều khiển xe mô tô khi đã sử dụng bia, rượu mà trong máu có nồng độ cồn là vi phạm khoản 8 Điều 8 Luật giao thông đường bộ, khoản 1 Điều 35 Luật phòng, chống tác hại của rượu, bia. Lỗi trong vụ án này hoàn toàn thuộc về bị cáo Lâm Quang T, do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lâm Quang T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a, b Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi cộng đồng xã hội một thời gian, xét xử bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất hành vi phạm tội để răn đe giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Lâm Quang T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Lâm Quang T đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên đây là các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Đại diện theo pháp luật của bị hại đã xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Về dân sự:
Đại diện theo pháp luật của bị hại là ông Điệp Tấn Q và bà Nguyễn Thị Lan C yêu cầu bị cáo Lâm Quang T phải bồi thường thiệt hại do tính mạng của bị hại anh Điệp Văn N bị xâm phạm, yêu cầu này của ông Điệp Tấn Q, bà Nguyễn Thị Lan C là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 584, 585, 586, 591 Bộ luật dân sự. Do đó, cần buộc bị cáo Lâm Quang T phải bồi thường cho ông Điệp Tấn Q, bà Nguyễn Thị Lan C những khoản thiệt hại và chi phí hợp lý, cụ thể:
- Chi phí cấp cứu và điều trị tại Bệnh viên đa khoa tỉnh Quảng Ngãi: 1.327.420đồng.
- Chi phí điều trị tại Bệnh viên đa khoa Đà Nẵng: 630.195đồng.
- Chi phí xe cấp cứu từ Quảng Ngãi đi Đà Nẵng: 3.600.000đồng
- Chi phí xe cấp cứu từ Đà Nẵng về HP: 4.800.000đồng
- Chi phí khâm liệm: 16.030.000đồng
- Chi phí thuê xe tang, đồ lễ và chôn cất: 16.200.000đồng
- Chi phí làm mộ: 36.215.000đồng
Tổng cộng 78.802.615đồng ( Bảy mươi tám triệu tám trăm lẻ hai ngàn sáu trăm mười lăm đồng)
Đại diện theo pháp luật của bị hại không yêu cầu bị cáo phải bù đắp về tổn thất tinh thần, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Điệp Văn T1 yêu cầu bị cáo Lâm Quang T phải bồi thường thiệt hại về tài sản do chiếc xe mô tô biển kiểm soát 76F1-20454 bị hư hỏng phải sửa chữa, yêu cầu này của anh Điệp Văn T1 là có cơ sở, phù hợp với quy định tại Điều 584, 585, 586, 589 của Bộ luật dân sự. Do đó, cần buộc bị cáo Lâm Quang T phải bồi thường cho anh Điệp Văn T1 khoản thiệt hại về tài sản là 10.315.000đồng (Mười triệu ba trăm mười lăm ngàn đồng).
Về xử lý vật chứng: Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NH ra Quyết định xử lý vật chứng, giao trả một chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA Exciter biển kiểm soát 76F1 – 204.54 cho chủ sở hữu anh Điệp Văn T1 là phù hợp, đúng pháp luật nên được chấp nhận, Hội đồng xét xử không xem xét.
Đối với xe mô tô nhãn hiệu Maxway, loại C110, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 76Z1-7909, tình trạng hư hỏng, đã qua sử dụng, Hội đồng xét xử nhận thấy đây là tài sản của bị cáo Lâm Quang T, trả lại cho bị cáo, nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Về án phí: Bị cáo Lâm Quang T phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 4.455.880đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện NH về hình phạt, về dân sự và xử lý vật chứng là phù hợp với nhận định trên nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a, b Khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, Điều 48 Bộ luật hình sự, Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 589, Điều 591 của Bộ luật dân sự; Điều 136, Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
1. Tuyên bố: Bị cáo Lâm Quang T phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;
2. Xử phạt bị cáo Lâm Quang T 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi chấp hành án.
3. Về dân sự:
- Buộc bị cáo Lâm Quang T phải bồi thường thiệt hại cho ông Điệp Tấn Q và bà Nguyễn Thị Lan C số tiền 78.802.615đồng (Bảy mươi tám triệu tám trăm lẻ hai ngàn sáu trăm mười lăm đồng).
- Buộc bị cáo Lâm Quang T phải bồi thường thiệt hại cho anh Điệp Văn T1 số tiền 10.315.000đồng (Mười triệu ba trăm mười lăm ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Lâm Quang T xe mô tô nhãn hiệu Maxway, loại C110, màu sơn đỏ, biển kiểm soát 76Z1-7909 tình trạng hư hỏng, đã qua sử dụng, nhưng tiếp tục tạm giữ để bảo đảm thi hành án, vật chứng này được thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 09/ 7 /2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện NH và Chi cục Thi hành án dân sự huyện NH.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Lâm Quang T phải chịu 200.000đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 4.455.880đồng (Bốn triệu bốn trăm năm mươi lăm ngàn tám trăm tám mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện theo pháp luật của bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND tỉnh Quảng Ngãi; - VKSND huyện NH; - Cơ quan THAHS CA huyện NH; - Cơ quan CSĐT CA huyện NH; - Chi cục THADS huyện NH; - Sở tư pháp tỉnh Quảng Ngãi; - Người tham gia tố tụng; - Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Trần Thị Thanh Bình |