- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lô Đức Thụ cùng đồng phạm đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Lô Đức T, Đoàn Chí C, Thang Huy Ơ và Lê Minh H phạm tội “Đánh bạc”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 56 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2021/HS-ST Ngày 15- 4 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN D- TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Văn Sỹ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Chân;
2. Ông K’ Đào.
- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Bá Cƣờng Huy – Thƣ ký Tòa án nhân dân
huyện Di Linh, tỉnh L.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh, tỉnh L tham gia phiên
tòa: Ông K’ Dem - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh L. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự Tlý số: 12/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 3 năm 2021, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 17/2021/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2021 đối với bị các cáo:
1. Lô Đức T(tên gọi khác: Nguyễn Thái L); sinh ngày 12/02/1958 tại S; nơi cƣ trú: xã G, huyện D, tỉnh L; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/10; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lô Đình N và bà Hoàng Thị M; có vợ là Nguyễn Thị X và 04 con, con lớn sinh năm 1990, con nhỏ sinh năm 1998.
Tiền án: Tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 18/HS-PT ngày 21/6/1983 của Tòa án nhân dân tỉnh LS xử phạt 10 tháng tù về tôi “Trộm cắp tài sản”, chấp hành án từ ngày 29/9/1984 đến ngày 19/4/1985 bỏ trốn và bị truy nã về hành vi giết ngƣời; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/9/2020 đến ngày 12/9/2020 đƣợc tại ngoại, sau đó bị bắt tạm giam từ ngày 15/12/2020 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Đoàn Chí C; sinh năm 1969 tại L; nơi cƣ trú: xã G, huyện D, tỉnh L; nghề nghiệp: Kinh doanh; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Chí Hiếu và bà Nguyễn Thị Chi; có vợ là Nguyễn Thị Băng Tuyến và 02 con, con lớn sinh năm 1997, con nhỏ sinh năm 2003; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/9/2020 đến ngày 12/9/2020 đƣợc tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3. Thang Huy Ơ; sinh năm 1966 tại TH; nơi cƣ trú: Số nhà 05, thôn Lăng Kú, xã G, huyện D, tỉnh L; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Thang Huy B và bà Trần Thị Â; có vợ là Nguyễn Thị Ƣ và 03 con, con lớn sinh năm 1991, con nhỏ sinh năm 1997; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/9/2020 đến ngày 12/9/2020 đƣợc tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
4. Lê Minh H; sinh năm 1973 tại Tiền Giang; nơi ĐKTT: Tổ dân phố 8, thị
trấn Di Linh, huyện Di Linh, tỉnh L; tạm trú: Thôn Hàng Hải, xã G, huyện D, tỉnh L; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Vân và bà Phan Thị Sắc; có vợ là Phan Thị Kiều Oanh và 02 con, con lớn sinh năm 2001, con nhỏ sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/9/2020 đến ngày 12/9/2020 đƣợc tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:
Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 10/9/2020, Công an huyện Dphối hợp với chính quyền xã Gkiểm tra và bắt quả tang Lô Đức Thụ, Đoàn Chí C, Thang Huy Ơ và Lê Minh H đang đánh bạc dƣới hình thức bài phỏm tại nhà của Đoàn Chí C ở thôn K’long Trao 2, xã G, huyện D, tỉnh L, thu giữ 01 bộ bài tây 52 lá và 8.150.000 đồng trên chiếu bạc, trong đó thu giữ tại vị trí của Lê Minh H 1.900.000 đồng, tại vị trí của Đoàn Chí C 1.550.000 đồng, vị trí của Lô Đức T 2.100.000 đồng, vị trí của Thang Huy Ơ 2.600.000 đồng, ngoài ra còn thu giữ trên ngƣời Lê Minh H 970.000 đồng, Đoàn Chí C 1.050.000 đồng, Thang Huy Ơ 17.800.000 đồng.
Quá trình điều tra các bị cáo khai nhận vào lúc 19 giờ ngày 10/9/2020, Lô
Đức Thụ, Thang Huy Ơ và Lê Minh H đến nhà Đoàn Chí C chơi uống nƣớc, đánh cờ và trời đổ mƣa nên các bị cáo rủ nhau mỗi ngƣời bỏ ra 2.000.000 đồng (gọi là “chớn”) và dùng 01 bộ bài tây 52 lá để đánh bạc dƣới hình thức “phỏm”, khi kết thúc ván bài ngƣời nào ít điểm nhất sẽ thắng và đƣợc những ngƣời thua có số điểm cao hơn theo thứ tự 2, 3 và 4 trả tiền lần lƣợt là 50.000 đồng, 100.000 đồng và 150.000 đồng, ván nào có ngƣời đƣợc 03 phỏm là “Ù” và 03 ngƣời còn lại phải trả mỗi ngƣời 250.000 đồng. Khi các bị cáo đang đánh bạc thì bị Công an bắt quả tang, số tiền 8.150.000 đồng thu giữ trên chiếu bạc là tiền các bị cáo bỏ ra để đánh bạc, trong đó của mỗi bị cáo 2.000.000 đồng và của Thang Huy Ơ bỏ thêm 50.000 đồng để lấy may, 100.000 đồng còn lại là do có bị cáo đếm nhầm khi bỏ tiền ra đánh bạc. Đối với số tiền thu giữ trên ngƣời các bị cáo xác định sẽ không sử dụng vào mục đích đánh bạc.
Tại Bản cáo trạng số 16/CTr-VKS ngày 16 tháng 3 năm 2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dđã truy tố các bị cáo Lô Đức T, Đoàn Chí C, Thang Huy Ơ và Lê Minh H về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố đề nghị tuyên bố các bị cáo Lô Đức T, Đoàn Chí C, Thang Huy Ơ và Lê Minh H phạm tội đánh bạc. Đề nghị áp dụng Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56, Điều 58, khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lô Đức Ttừ 12 đến 15 tháng tù, tổng hợp với phần hình phạt chƣa chấp hành tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 18/HS-PT ngày 21/6/1983 của Tòa án nhân dân tỉnh LS để buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung. Đề nghị áp dụng Điều 17, Điều 35, các điểm i, s khoản 1 điều 51, Điều 58, khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017, áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính để xử phạt các bị cáo Đoàn Chí C, Thang Huy Ơ và Lê Minh H mỗi bị cáo từ 30 triệu đồng đến 40 triệu đồng; tịch thu của các bị cáo số tiền 8.150.000 đồng trên chiếu bạc để sung công quỹ; tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá là tang vật vụ án; trả lại số tiền thu giữ trên ngƣời các bị cáo do không liên quan đến hành vi đánh bạc gồm của Lê Minh H 970.000 đồng, Đoàn Chí C 1.050.000 đồng, Thang Huy Ơ 17.800.000 đồng nhƣng tạm giữ để bảo đảm thi hành án; buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Kết quả thẩm vấn tại phiên tòa, các bị cáo đều thừa nhận đã thực hiện hành vi đánh bạc nhƣ bản cáo trạng đã nêu, có thái độ ăn năn, hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:
Về hành vi tố tụng của Cơ quan Điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, ngƣời tiến hành tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án đều hợp pháp.
Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai trong giai đoạn điều tra, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập đã đƣợc thẩm tra, làm rõ tại phiên tòa. Do đó có đủ căn cứ kết luận: Trong thời gian từ khoảng 19 giờ đến 20 giờ 30 phút ngày 10/9/2020, tại nhà của bị cáo Đoàn Chí C ở thôn K’long Trao 2, xã G, huyện D, tỉnh L, các bị cáo Lô Đức T, Đoàn Chí C, Thang Huy Ơ và Lê Minh H đã thực hiện hành vi đánh bạc trái phép đƣợc thua bằng tiền với số tiền sử dụng để đánh bạc là 8.150.000 đồng, hành vi của các bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017 nhƣ truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh.
Xét thấy các bị cáo cùng rủ nhau đánh bạc nên thuộc trƣờng hợp đồng
phạm giản đơn và có vai trò ngang nhau trong vụ án. Đối với các bị cáo Đoàn Chí C, Thang Huy Ơ và Lê Minh H phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; phạm tội lần đầu và thuộc trƣờng hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn, hối cải nên đƣợc hƣởng các giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, i khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Sau khi cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân ngƣời phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Xét thấy việc Viện kiểm sát đề nghị áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo Đoàn Chí C, Thang Huy Ơ và Lê Minh H cũng đủ để răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung nên cần chấp nhận.
Đối với bị cáo Lô Đức T thành khẩn khai báo nên đƣợc hƣởng tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo Tđã bị xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 18/HS-PT ngày 21/6/1983 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, chấp hành án từ ngày 29/9/1984 nhƣng đến ngày 19/4/1985 bỏ trốn và bị truy nã về hành vi giết ngƣời, nay bị cáo lại phạm tội do cố ý nên phải chịu tình tiết tăng nặng “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Do đó, cần áp dụng Điều 38 và Điều 56 của Bộ luật hình sự, buộc bị cáo Lô Đức Tphải chịu hình phạt tù, tổng hợp với phần hình phạt 03 tháng 10 ngày tù chƣa chấp hành tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 18/HS-PT ngày 21/6/1983 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung nhƣ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đúng pháp luật.
Về vật chứng: Đối với 01 bộ bài tây là công cụ phạm tội nhƣng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy; đối với số tiền 8.150.000 đồng các bị cáo sử dụng để đánh bạc cần tịch thu sung công quỹ Nhà nƣớc; đối với số tiền thu trên ngƣời các bị cáo nhƣng không liên quan đến hành vi phạm tội cần trả cho các bị cáo nhƣng tạm giữ để bảo đảm thi hành án là phù hợp.
Về án phí: Cần buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
1. Tuyên bố các bị cáo Lô Đức T, Đoàn Chí C, Thang Huy Ơ và Lê Minh H phạm tội “Đánh bạc”.
1.1. Áp dụng Điều 17, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 2 Điều 56, Điều 58 và khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lô Đức T12 tháng tù, tổng hợp với phần hình phạt 03 tháng 10 ngày tù chƣa chấp hành tại Bản án hình sự phúc thẩm số: 18/HS-PT ngày 21/6/1983 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, buộc bị cáo Lô Đức Tphải chấp hành hình phạt chung là 15 (mƣời lăm) tháng 10 (mƣời) ngày tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giam 15/12/2020, đƣợc trừ vào thời gian đã bị tạm giữ từ ngày 10/9/2020 đến ngày 12/9/2020. Tiếp tục tạm giam bị cáo Lô Đức Tđể bảo đảm thi hành án.
1.2 Áp dụng Điều 17, Điều 35, điểm i và điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, khoản 1 Điều 321 của Bộ luật hình sự năm 2015, đƣợc sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt các bị cáo Đoàn Chí C, Thang Huy Ơ và Lê Minh H mỗi bị cáo 30.000.000 đồng (Ba mƣơi triệu đồng).
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
2.1. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây 52 lá (Theo biên bản giao nhận vật
chứng lập ngày 16/3/2021 giữa Công an huyện và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Di Linh);
2.2. Tịch thu của các bị cáo Lô Đức Thụ, Đoàn Chí C, Thang Huy Ơ và Lê
Minh H số tiền 8.150.000 đồng đã sử dụng để đánh bạc để sung ngân sách Nhà nƣớc;
2.3. Hoàn trả cho các bị cáo số tiền không liên quan đến hành vi đánh bạc
gồm: Lê Minh H 970.000 đồng, Đoàn Chí C 1.050.000 đồng, Thang Huy Ơ 17.800.000 đồng. Tiếp tục tạm giữ toàn bộ số tiền hoàn trả các bị cáo để bảo đảm thi hành án.
(Toàn bộ số tiền trên Công an huyện D đã nộp vào Kho bạc Nhà nước huyện D theo Giấy nộp tiền vào ngân sách nhà nước ghi ngày 08/10/2020).
3. Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội. Buộc các bị cáo Lô Đức T, Đoàn Chí C, Thang Huy Ơ và Lê Minh H mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
4. Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh L xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh L; - VKSND tỉnh L; - VKSND huyện D; - CQ Điều tra Công an huyện D; - CQ THAHS Công an huyện D; - Nhà tạm giữ Công an huyện D; - Chi cục THADS huyện D; - Sở Tƣ pháp L; - Sở Tƣ pháp SL - Các bị cáo; - Bộ phận THAHS; - Lƣu án văn; hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Bùi Văn Sỹ |