vanban.org

Bản án 20/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang Tuyên án 10/03/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ trái phép chất ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ GẠO
TỈNH TIỀN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

-Bản án số: 20/2021/HS-ST
-Ngày: 10/3/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

* Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Văn Tài;

* Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Trung Trực

2. Bà Lê Thị Ngọc Ánh

* Thư ký phiên tòa: ông Đỗ Thanh Phong Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Ngọc Phụng kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 3 năm 2021, tại Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 10/2021/TLST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 14/2021/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo:

ĐẶNG QUỐC A, sinh ngày 10/3/1984. Số chứng minh nhân dân: 311760998 cấp ngày 12/11/2019 tại Công an tỉnh Tiền Giang. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp M, xã N, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Nghề nghiệp: Không. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Con ông Đặng Văn A1 (đã chết) và bà Trần Thị Hồng A2. Bị cáo có 04 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình, chưa có vợ, con. Tiền sự: không. Tiền án: 01 lần. Ngày 20/11/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/10/2019, chưa được xóa án tích. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 16/11/2020, tạm giam ngày 19/11/2020 và có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Võ Hoàng B, sinh năm 1970 (vắng mặt)

Địa chỉ: ấp M1, xã N1, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 50 phút ngày 16/11/2020, tại huyện lộ 27B, thuộc ấp M2, xã N2, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - ma túy Công an huyện Chợ Gạo phối hợp với Công an xã N2 bắt quả tang Đặng Quốc A đang cất giấu một gói nylon màu trắng trong túi quần phía sau bên phải A đang mặc trên người, bên trong có chứa tinh thể trong suốt, A khai là ma túy đá.

Tại cơ quan điều tra, A khai nhận: Gói ma túy cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Gạo thu giữ trên người A là do A mua của một đối tượng tên An tại địa bàn ấp M3, xã N3, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang vào ngày 16/11/2020, với giá tiền 600.000 đồng. Mục đích A mua ma túy để cất giấu sử dụng.

Theo Kết luận giám định số 231/KLGĐ-PC09 ngày 18/11/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Tiền Giang kết luận: Các mẫu tinh thể trong suốt trong 01 (một) gói nylon màu trắng được hàn kín , để trong một gói giấy màu trắng được niêm phong có các chữ ký ghi họ tên: Đặng Quốc A, Nguyễn Văn Thơ, Ngô Thành Khánh Duy và Võ Tuấn Kiệt; gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,3534 gam, loại Methamphetamine.

Tại Cáo trạng số 16/CT-VKSCG ngày 05/02/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo Đặng Quốc A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát huyện Chợ Gạo giữ nguyên quyết định truy tố về tội danh và điều luật áp dụng như nội dung cáo trạng; qua phân tích, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Đặng Quốc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”;

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Đặng Quốc A từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Và đề nghị xử lý vật chứng như sau:

Đối với 01 gói giấy màu trắng được niêm phong ký hiệu vụ số 231 ghi ngày 18 tháng 11 năm 2020, có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Huỳnh Thị Diệu Hương (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên Võ Tuấn Kiệt (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ in chữ Phòng Kỹ Thuật Hình Sự - Công An Tỉnh Tiền Giang, bên trong có 01 gói nylon màu trắng được dán kín, chứa 1,2785 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 vỏ bao gói nylon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định là chất ma túy còn lại sau giám định và công cụ để cất giữ trái phép chất ma túy nên đề nghị tịch thu tiêu hủy;

+ Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động hiệu Sony D2502.

+ Đối với xe mô tô biển kiểm soát 63F8 – 6204, qua xác minh, xe do anh Võ Hoàng B, sinh năm 1970, ngụ ấp M1, xã N1, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang đăng ký chủ sở hữu. Tuy nhiên, anh B đã bán xe trên cho người khác nhưng chưa làm thủ tục sang tên và bị cáo mua lại xe này. Hiện nay, anh B không có yêu cầu gì đối với xe mô tô biển kiểm soát 63F8 – 6204 mà bị cáo A đang sử dụng. Xe này không liên quan đến vụ án nên đề nghị trả lại cho bị cáo.

Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến tranh luận, bị cáo thống nhất với cáo trạng và bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, về hình phạt, xử lý vật chứng. Bị cáo có lời nói sau cùng: bị cáo biết mình có hành vi vi phạm pháp luật và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sớm trở về phụ giúp gia đình, trở thành người có ích cho xã hội để làm lại cuộc đời.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, lời trình bày của bị cáo, ý kiến của Kiểm sát viên;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra bị cáo xuất trình các tài liệu, chứng cứ phù hợp với quy định của pháp luật. Các Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Quyết định tạm giữ, Lệnh tạm giam đều căn cứ vào những quy định của Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự và được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn. Các biên bản thu giữ, niêm phong tang vật, mở niêm phong lấy mẫu giám định, Quyết định trưng cầu giám định, Kết luận giám định đều được các Cơ quan tiến hành tố tụng tuân thủ nghiêm ngặt theo đúng trình tự quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Việc tống đạt các văn bản tố tụng cho bị can, bị cáo được đảm bảo, đúng thời gian, đúng pháp luật. Hội đồng xét xử tiến hành phiên tòa đúng trình tự theo quy định Bộ luật Tố tụng hình sự, đảm bảo việc xét xử trang nghiêm, đảm bảo quyền cho những người được thạm gia tố tụng tại phiên tòa. Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.

[2] Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham dự phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không lý do. Nhận thấy người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt không ảnh hưởng đến việc xét xử đối với bị cáo, bị cáo đồng ý tiếp tục xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự tiếp tục phiên tòa xét xử đối với bị cáo.

Về hành vi phạm tội: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận: vào khoảng 22 giờ 50 phút ngày 16/11/2020 tại ấp M2, xã N2, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang, A bị bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng 1,3534 gam, loại Methamphetamine để sử dụng. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với kết quả khám nghiệm hiện trường, vật chứng thu giữ được cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Hành vi của bị cáo đủ yếu tố để cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều luật quy định:“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy ...... thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạọ truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền quản lý độc quyền của Nhà nước về các chất ma túy, bị cáo đã thành niên, nhận thức được chất ma túy là mối hiểm họa cho cộng đồng, là nguyên nhân làm phát sinh các tội phạm khác, gây mất trật tự xã hội tại địa phương và việc tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn thực hiện. Bị cáo cất giấu 01 bịch ma túy để sử dụng qua giám định có khối lượng 1,3534 gam, loại Methamphetamine là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy trong khi bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự nên bị cáo phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của bị cáo và xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và giáo dục chung cho mọi người.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng, nhân thân, đồng phạm:

+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

+ Về tình tiết tăng nặng: Ngày 20/11/2018, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, chấp hành xong hình phạt tù ngày 14/10/2019. Bị cáo chưa được xóa án tích nay tiếp tục phạm tội nên lần phạm tội này, bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng là “tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

+ Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân xấu, có tiền án như nêu trên.

+ Đồng phạm: Trong vụ án không có đồng phạm.

Đối với đối tượng tên An đã bán ma túy cho A, do A không biết họ tên đầy đủ, địa chỉ cụ thể, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Chợ Gạo chưa xác minh làm rõ được, khi nào xác minh được nếu có căn cứ sẽ xử lý sau.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...” do đó bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định, điều kiện kinh tế còn khó khăn, bị cáo hiện đang bị tạm giam. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 gói giấy màu trắng được niêm phong ký hiệu vụ số 231 ghi ngày 18 tháng 11 năm 2020, có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Huỳnh Thị Diệu Hương (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên Võ Tuấn Kiệt (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ in chữ Phòng Kỹ Thuật Hình Sự - Công An Tỉnh Tiền Giang, bên trong có 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín, chứa 1,2785 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 vỏ bao gói nylon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định là chất ma túy còn lại sau giám định và công cụ để cất giữ trái phép chất ma túy nên tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Sony D2502 là điện thoại của bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

Đối với xe mô tô biển kiểm soát 63F8– 6204 do anh Võ Hoàng B đứng tên chủ sở hữu. Tuy nhiên, anh B đã bán xe trên cho người khác nhưng chưa làm thủ tục sang tên sau đó bị cáo mua lại xe này và chưa sang tên. Hiện nay, anh B không có yêu cầu gì đối với xe này, hơn nữa xe này không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.

Xét đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận thấy:

+ Đại diện Viện kiểm sát phát biểu về các chứng cứ buộc tội, tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, về mức hình phạt, Viện kiểm sát đề nghị đối với bị cáo là tương xứng với nhân thân, hậu quả của bị cáo đã gây ra nên Hội đồng xét xử có xem xét khi nghị án.

+ Về xử lý vật chứng, Viện kiểm sát đề nghị là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Đặng Quốc A phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"

1. Về hình phạt:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017;

* Xử phạt bị cáo Đặng Quốc A 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 16/11/2020;

2. Về vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;

Tịch thu tiêu hủy: 01 gói giấy màu trắng được niêm phong ký hiệu vụ số 231 ghi ngày 18 tháng 11 năm 2020, có chữ ký ghi họ tên Nguyễn Thanh Trường (Giám định viên), Huỳnh Thị Diệu Hương (Trợ lý giám định), chữ ký ghi họ tên Võ Tuấn Kiệt (bên nhận) và hình dấu tròn màu đỏ in chữ Phòng Kỹ Thuật Hình Sự - Công An Tỉnh Tiền Giang, bên trong có 01 (một) gói nylon màu trắng được dán kín, chứa 1,2785 gam là ma túy còn lại sau giám định, loại Methamphetamine và 01 vỏ bao gói nylon màu trắng đã bị cắt một đầu để lấy mẫu giám định.

Trả lại cho bị cáo Đặng Quốc A 01 điện thoại di động hiệu Sony D2502 và 01 xe mô tô biển kiểm soát 63F8 – 6204.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Đặng Quốc A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang để yêu cầu xét xử theo thủ tục phúc thẩm. Riêng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt, thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ