- Tranh chấp gì? án hình sự — "Hình sự - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2021/HS-ST Ngày 26-8-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÁT HẢI, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lưu Văn Năm.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Đoàn Thị Tiến
Bà Phạm Thị Hồng Ngân
- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Quang Bảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Vũ Huy Tài - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 19/2021/TLST-HS ngày 04 tháng 8 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2021/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Sỹ T, sinh ngày 23-10-1980 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố 10, thị trấn C, huyện C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn S và bà Lưu Thị L1; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự, nhân thân: có 02 tiền án đã được xóa án tích (Bản án số 28 ngày 23-9-2008 của Tòa án nhân dân huyện Cát Hải xử phạt 24 tháng tù và Bản án số 05 ngày 25-4-2014 của Tòa án nhân dân huyện Cát Hải xử phạt 36 tháng tù đều về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy), 01 tiền sự chưa được xóa (Ngày 21-8-2020, Công an huyện Cát Hải xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy); bị tạm giữ từ ngày 15-5-2021 đến ngày 21-5-2021 chuyển tạm giam; có mặt.
- Người làm chứng: Ông Vũ Văn L2 và anh Nguyễn Văn C, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 10 giờ 15 phút ngày 15-5-2021, trên trục đường 356 thuộc tổ dân phố Hùng Sơn, thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, tổ công tác Đồn Biên phòng Cát Bà phát hiện bắt quả tang Lê Sỹ T đang có hành vi cất giữ trái phép chất ma túy. Thu giữ trên võng xe mô tô Wave màu đỏ, biển kiểm soát 16P2-4232 do T điều khiển 01 khăn mặt cũ bên trong có 03 gói giấy được quấn băng dính đen và 04 gói giấy bạc màu trắng chứa chất bột màu trắng dạng cục. T khai nhận là ma túy Heroine mua tại nội thành Hải Phòng, mục đích để sử dụng. Đồn Biên phòng Cát Bà đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, thu giữ số ma túy trên và tạm giữ 01 xe mô tô Wave màu đỏ, biển kiểm soát 16P2-4232.
Tại Đồn Biên phòng Cát Bà và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cát Hải, Lê Sỹ T khai nhận: Do nghiện ma túy, nên khoảng 06 giờ ngày 15-5-2021, T điều khiển xe mô tô Wave màu đỏ, biển kiểm soát 16P2-4232 đi từ nhà đến khu vực ngõ 30, đường Trần Nguyên Hãn, Lê Chân, Hải Phòng, gặp một người đàn ông không quen biết hỏi mua 700.000 đồng được 07 gói ma túy, loại Heroine, trong đó 03 gói được quấn băng dính màu đen và 04 gói bằng giấy bạc màu trắng. T cất giấu số ma túy mua được vào một khăn mặt cũ, kẹp vào võng xe mô tô biển kiểm soát 16P2-4232 đi về thị trấn Cát Bà. Khi T đi đến trục đường 356 thuộc tổ dân phố Hùng Sơn, thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải thì bị tổ công tác Đồn Biên phòng Cát Bà phát hiện bắt quả tang thu giữ số ma túy trên.
Kết luận giám định số 325/KLGĐ-MT ngày 15-5-2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,63 gam, là loại Heroine
Bản Cáo trạng số 19/CT-VKS ngày 04-8-2021 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải truy tố bị cáo Lê Sỹ T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma tuý" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận về hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Bị cáo có hành vi cất giữ trái phép ma túy với khối lượng 1,63 gam, là loại Heroine nhằm mục đích để sử dụng cho bản thân. Do đó, Viện Kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Bị cáo thành khẩn khai báo, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Sỹ T từ 42 đến 48 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
- Về xử lý vật chứng vụ án:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy chất ma túy còn lại sau giám định.
- Về các vấn đề khác:
Đối với người nam giới bán ma túy cho T, do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cát Hải không có cơ sở để xử lý.
Tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến tranh luận, đồng thời thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng và luận tội của Viện Kiểm sát. Bị cáo biết hành vi của mình là sai, là vi phạm pháp luật, rất ăn năn hối hận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cát Hải, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng trong vụ án, không có ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Lê Sỹ T đều khai nhận hành vi phạm tội của mình, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với lời khai của người làm chứng, kết luận giám định, vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã làm rõ: Bị cáo Lê Sỹ T là người nghiện ma túy, nên ngày 15-5-2021, tại tổ dân phố Hùng Sơn, thị trấn Cát Bà, huyện Cát Hải, thành phố Hải Phòng, Lê Sỹ T có hành vi cất giữ trái phép 1,63 gam ma túy, loại Heroine, mục đích để sử dụng. Theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
c) Heroine,.. có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;”.
Như vậy, hành vi cất giữ trái phép 1,63 gam ma túy nêu trên của bị cáo Lê Sỹ T có đủ yếu tố cấu thành tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết định khung hình phạt:
Bị cáo T là người có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ nên phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi mà mình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của nhà nước về các chất ma túy. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời có tác dụng giáo dục chung, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ chính trị của địa phương trong công tác đấu tranh, phòng chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo có 02 tiền án đều bị xử phạt tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy và đã được xóa án tích; 01 tiền sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy và bị Công an huyện Cát Hải xử phạt vi phạm hành chính nhưng đến nay chưa được xóa. Các tiền án đã được xóa và 01 tiền sự chưa được xóa nhưng không được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, song cần phải đánh giá về nhân thân bị cáo là rất xấu. Do đó, trong trường hợp này cần phải xử phạt bị cáo với mức án nghiêm khắc.
- Về hình phạt bổ sung:
Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định "5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản" do đó, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có thu nhập, không có tài sản riêng. Do vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng vụ án:
Đã thu giữ được của Lê Sỹ T:
01 (một) phong bì niêm phong chất ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với xe mô tô Wave BKS 16P2-4232 T sử dụng vào việc phạm tội, T khai nhận mua tại Hải Phòng, đã làm mất giấy tờ. Quá trình điều tra không xác định được số khung, số máy nguyên thủy của chiếc xe trên do đã bị mài xóa, nên không xác định được chủ sở hữu, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cát Hải tách ra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau là có cơ sở.
- Về các vấn đề khác:
Đối với người nam giới bán ma túy cho T, do không xác định được lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cát Hải không có cơ sở để xử lý.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự.
Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo có quyền kháng cáo bản án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Lê Sỹ T 48 (Bốn mươi tám) tháng tù về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy". Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 15-5-2021.
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì niêm phong chất ma túy thu giữ được của Lê Sỹ T còn lại sau giám định. Đặc điểm các vật chứng theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 04-8-2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cát Hải và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cát Hải.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án. Buộc bị cáo T phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND TP Hải Phòng; - VKSND TP Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP Hải Phòng; - Công an TP Hải Phòng (PV 06); - Trại tạm giam của Công an TP Hải Phòng; - VKSND huyện Cát Hải; - Công an huyện Cát Hải; - Cơ quan THAHS Công an huyện Cát Hải; - Chi cục THADS huyện Cát Hải; - Lưu: Hồ sơ vụ án, HCTP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lưu Văn Năm |