vanban.org

Bản án 20/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trƣơng Thị T đƣợc ly hôn anh Hoàng Văn C.

Về con chung: Xử giao cả 02 con chung là Hoàng Thị Thu L, sinh ngày 25/6/2008 và Hoàng Sơn L, sinh ngày 26/11/2014 cho chị Trƣơng Thị T trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn C có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung với chị Trƣơng Thị T đối với cả 02 con chung, mỗi con chung … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trương Thị T - Hoàng Văn C"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trƣơng Thị T đƣợc ly hôn anh Hoàng Văn C.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÍ LINH
TỈNH HẢI DƢƠNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 21 - 5 - 2021
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con
khi ly hôn

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đới Văn Trinh

2. Ông Dƣơng Văn Sinh

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Vân Anh - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.

- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 5 năm 2021 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án dân sự thụ lý số: 409/2020/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2020 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 19/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 13/4/2021, giữa các đƣơng sự:

1. Nguyên đơn: Chị Trƣơng Thị T, sinh năm 1981;

ĐKHKTT: Khu dân cƣ N, phƣờng C, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng;

Nơi ở hiện nay: Khu dân cƣ V, phƣờng C, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn C, sinh năm 1979;

Địa chỉ: Khu dân cƣ N, phƣờng C, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

* Ngƣời làm chứng: Anh Trƣơng Mạnh T, sinh năm 1977;

Địa chỉ: Khu dân cƣ V, phƣờng C, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.

Chị T, anh C, anh T đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 04/12/2020, bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, chị Trƣơng Thị T trình bày:

Chị và anh Hoàng Văn C đăng ký kết hôn ngày 01/01/2007 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C (nay là phƣờng C, thành phố C) trên cơ sở tự nguyện và đƣợc hai bên gia đình tổ chức lễ cƣới theo phong tục tập quán địa phƣơng. Sau ngày cƣới, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh C ở khu dân cƣ N, phƣờng C. Đến năm 2015, vợ chồng chuyển về ở nhờ trên đất của bố mẹ chị T ở khu dân cƣ V, phƣờng C.Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc. Đến năm 2008, sau khi chị sinh con, anh C bắt đầu chơi bời, cờ bạc, không quan tâm đến vợ con. Chị khuyên bảo thì anh C còn đánh chị. Đến năm 2016, mâu thẫn vợ chồng trở nên trầm trọng. Anh C tiếp tục chơi bời, nợ nần. Nhiều lần để xã hội đen đến nhà đòi nợ. Gia đình khuyên bảo anh C cũng không chịu thay đổi. Sau đó, đến năm 2017, anh C bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở thôn V, phƣờng C ở một thời gian rồi bỏ ra ngoài làm ăn, thỉnh thoảng mới về nhà, sau đó lại đi luôn. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Chị xác định vợ chồng không còn tình cảm và không thể về đoàn tụ đƣợc. Do vậy, chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn anh C. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hoàng Thị Thu L, sinh ngày 25/6/2008 và Hoàng Sơn L, sinh ngày 26/11/2014. Nếu ly hôn chị đề nghị giao 02 con cho chị đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng. Lý do chị xin đƣợc nuôi cả 02 con chung vì hiện tại chị làm công nhân may tại Công ty Trách nhiệm hữu hạn phát triển và dịch vụ thƣơng mại K, thu nhập bình quân khoảng 6.000.000đ/tháng. Các con ở với chị từ bé đến nay, đƣợc chị chăm sóc tốt. Bố mẹ chị cũng tạo điều kiện hỗ trợ chị về chỗ ở cũng nhƣ hỗ trợ chăm sóc các con khi chị đi làm. Hơn nữa, anh C đi làm xa, lại hay nợ lần, quan hệ xã hội phức tạp nên không tiện cho việc chăm sóc các con. Theo chị đƣợc biết, anh C vẫn đang đi làm tại Bắc Ninh, địa chỉ cụ thể chị không nắm đƣợc. Để đảm bảo việc ăn học, sinh hoạt của các con tốt nhất, chị yêu cầu anh C phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung với chị đối với cả 02 con chung, mỗi con chung là 1.000.000đ/tháng, kể từ tháng 5/2021 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Về quan hệ tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Anh Hoàng Văn C đã đƣợc Tòa án thông báo, triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng không đến làm việc.

- Tại bản tự khai ngày 14/3/2021, các cháu Hoàng Thị Thu L và Hoàng Sơn L đều trình bày có nguyện vọng xin đƣợc ở với mẹ.

- Anh Trƣơng Mạnh T - anh trai chị T xác định: Khoảng năm 2016, chị T, anh C phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh C chơi bời, không chịu tu chí làm ăn, nợ lần nhiều. Có lần xã hội đen kéo đến nhà đe dọa chị T để đòi tiền, anh và gia đình đã phải đến thì những ngƣời đó mới chịu bỏ đi. Giữa chị T và anh C sau đó thƣờng xuyên xảy ra cãi vã, xô xát. Gia đình đã hòa giải nhiều nhƣng không đƣợc. Năm 2017, vợ chồng sống ly thân, anh C chuyển về nhà bố mẹ đẻ ở khu dân cƣ N, phƣờng C. Nay chị T xin ly hôn anh C, quan điểm của anh là đề nghị Tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung: Theo anh T nên tiếp tục giao 02 con chung là Hoàng Thị Thu L và Hoàng Sơn L cho chị T tiếp tục nuôi dƣỡng vì các cháu do chị T trực tiếp nuôi dƣỡng từ nhỏ đến nay. Chị T hiện tại đi làm công ty may gần nhà, đủ khả năng để chăm sóc, nuôi dƣỡng tốt cho các con. Còn anh C hiện tại ít khi ở nhà, quan hệ xã hội phức tạp, nếu giao con cho anh C nuôi sẽ không đảm bảo điều kiện tốt nhất cho các cháu.

- Tại biên bản xác minh với khu dân cƣ Nẻo xác định: Năm 2016, giữa chị T và anh C có xảy ra mâu thuẫn do bất đồng trong việc làm ăn kinh tế do có nhiều ngƣời đến đòi nợ anh C. Có lần chị T báo với địa phƣơng là gia đình bị xã hội đen ném cả chất thải vào cửa nhà vì anh C vay nợ không trả. Vợ chồng thƣờng xuyên xảy ra cãi nhau. Sau đó, anh C về nhà bố mẹ đẻ ở rồi bỏ ra ngoài làm ăn, thỉnh thoảng mới về nhà nhƣng lại đi ngay. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay. Nay chị T xin ly hôn, quan điểm của địa phƣơng là đề nghị tòa án xem xét giải quyết theo quy định pháp luật. Về con chung: Địa phƣơng xác định hiện tại 02 con chung là L và L đang do chị T trực tiếp nuôi dƣỡng. Các cháu ngoan ngoãn, đƣợc chị T chăm sóc, nuôi dƣỡng tốt. Nếu tòa án giải quyết việc ly hôn quan điểm của địa phƣơng là nên giao 02 con cho chị T tiếp tục nuôi dƣỡng.

- Tại công văn trả lời số 11131/QLXNC-P5 ngày 11/5/2021 của Cục quản lý xuất nhập cảnh Bộ Công an xác định: Chƣa có thông tin xuất cảnh của anh Hoàng Văn C.

Tại phiên toà:

Chị T vắng mặt có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh C đƣợc triệu tập hợp lệ nhƣng vắng mặt lần thứ 2 không có lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, khoản 1 Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trƣơng Thị T đƣợc ly hôn anh Hoàng Văn C. Về con chung: Xử giao cả 02 con chung là Hoàng Thị Thu L, sinh ngày 25/6/2008 và Hoàng Sơn L, sinh ngày 26/11/2014 cho chị Trƣơng Thị T trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn C có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung với chị Trƣơng Thị T đối với cả 02 con chung, mỗi con chung là 1.000.000đ/tháng, kể từ tháng 5/2021 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh C thực hiện quyền này. Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết. Về án phí: Chị Trƣơng Thị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà chị T đã nộp theo biên lai thu số: AA/2017/0006765 ngày 25/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Anh Hoàng Văn C phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm cấp dƣỡng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến của đƣơng sự và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đƣa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn, giấy triệu tập đến tham gia tố tụng tại phiên tòa. Chị T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Anh C đã đƣợc tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả những ngƣời tham gia tố tụng.

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Hoàng Văn C cƣ trú tại: Khu dân cƣ N, phƣờng C, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng. Chị Trƣơng Thị T khởi kiện xin ly hôn anh C và đề nghị giải quyết về việc nuôi con chung, do vậy, đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh thụ lý giải quyết vụ án là đúng với thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trƣơng Thị T và anh Hoàng Văn C kết hôn với nhau ngày 01/01/2007 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã C (nay là phƣờng C). Do vậy, hôn nhân của chị T, anh C là hợp pháp. Sau khi kết hôn một thời gian, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do bất đồng quan điểm trong việc làm ăn kinh tế, vay nợ và thƣờng xuyên xảy ra cãi vã, xô xát. Từ năm 2017, chị T và anh C đã sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Mặc dù, Tòa án đã triệu tập anh C đến Tòa án nhiều lần, anh C biết nhƣng không đến Tòa, thể hiện sự thờ ơ, bỏ mặc tình trạng mâu thuẫn vợ chồng. Hội đồng xét xử thấy r ng việc chị T, anh C từ năm 2017 đến nay không sống chung, yêu thƣơng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình đã vi phạm nghĩa vụ vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Do vậy, cần căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử chấp nhận yêu cầu của chị T xin ly hôn với anh C.

Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hoàng Thị Thu L, sinh ngày 25/6/2008 và Hoàng Sơn L, sinh ngày 26/11/2014. Hiện tại, các con đang do chị T trực tiếp nuôi dƣỡng. Chị T đề nghị đƣợc tiếp tục nuôi dƣỡng cả 02 con chung và yêu cầu anh C phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung với chị đối với cả 02 con chung, mỗi con chung là 1.000.000đ/tháng, kể từ tháng 5/2021 đến khi con chung đủ 18 tuổi. Xét điều kiện hoàn cảnh hiện tại: Chị T đang làm công ty gần nhà, thu nhập 6.000.000đ/tháng, có chỗ ở ổn định; 02 con chung là Hoàng Thị Thu L và Hoàng Sơn L đƣợc chị T trực tiếp nuôi dƣỡng từ nhỏ đến nay, khỏe mạnh, ngoan ngoãn và đƣợc học hành đầy đủ; Anh C làm xa nhà, ít thời gian nuôi dƣỡng, chăm sóc các con. Quan điểm nuôi con của chị Hà phù hợp với nguyện vọng của cháu L, cháu L và phù hợp với điều kiện hoàn cảnh hiện tại của vợ chồng. Do vậy, cần căn cứ Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận theo yêu cầu của chị T về việc giao 02 con cho chị T tiếp tục nuôi dƣỡng để đảm bảo quyền lợi của các con chung. Anh C không trực tiếp nuôi con nên có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung với chị T. Hiện nay, mức lƣơng cơ sở là 1.490.000đ/tháng. Anh C hiện tại vẫn khỏe mạnh và đang đi làm bình thƣờng. Căn cứ vào khả năng thực tế của anh C, điều kiện sinh hoạt tại địa phƣơng và nhu cầu thiết yếu của các con chung, Hội đồng xét xử thấy r ng: Chị T yêu cầu anh C phải có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung với chị đối với cả 02 con chung, mỗi con chung là 1.000.000đ/tháng, kể từ tháng 5/2021 đến khi con chung đủ 18 tuổi, là phù hợp với quy định Điều 82, Điều 83, Điều 110, khoản 1 Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình nên đƣợc chấp nhận.

Anh C không trực tiếp nuôi con có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung không ai đƣợc cản trở.

Về quan hệ tài sản: Chị T, anh C không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.

Về án phí: Chị T là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Anh Hoàng Văn C có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm cấp dƣỡng theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, khoản 1 Điều 116, Điều 117 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, khoản 1,3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Trƣơng Thị T đƣợc ly hôn anh Hoàng Văn C.

2. Về con chung: Xử giao cả 02 con chung là Hoàng Thị Thu L, sinh ngày 25/6/2008 và Hoàng Sơn L, sinh ngày 26/11/2014 cho chị Trƣơng Thị T trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn C có nghĩa vụ cấp dƣỡng nuôi con chung với chị Trƣơng Thị T đối với cả 02 con chung, mỗi con chung là 1.000.000đ/tháng, kể từ tháng 5/2021 đến khi con chung đủ 18 tuổi.

Anh Hoàng Văn C có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh C thực hiện quyền này.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của ngƣời đƣợc thi hành án cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.

3. Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Trƣơng Thị T phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà chị T đã nộp theo biên lai thu số: AA/2017/0006765 ngày 25/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Chị T đã nộp đủ án phí.

Anh Hoàng Văn C phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm cấp dƣỡng.

5. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết.

Trƣờng hợp quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi yêu cầu hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ