- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hđược ly hônanh Nguyễn Kế H1.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN UH-TP HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2021/HNGĐ-ST Ngày 01 tháng 6năm 2021 (V/v: Tranh chấp Hôn nhân gia đình) |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN UH, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tô Thanh Phong.
Các Hội thẩm nhân dân:Bà Nguyễn Thị Vân; Ông Đặng Viết Côi.
- Thư ký phiên tòa:Bà Tưởng Thị Lan - Thư ký Tòa án nhân dân huyện UH, thành phố Hà Nội.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện UH tham gia phiên toà:
Ông Trịnh Minh Sỹ -Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 6 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện UHxét xử sơ thẩm công khaivụ án thụ lý số:70/2021/TLST- HNGĐ ngày15tháng3năm 2021về Tranh chấp Hôn nhân và gia đìnhtheo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số:15/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày26 tháng4năm2021và Quyết định hoãn phiên tòa số: 19/2021/QĐHPT-HNGĐ ngày 12 tháng 5 năm 2021giữa các đương sự:
*N đơn:Chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1998.
*Bịđơn:Anh Nguyễn Kế H1, sinh năm 1992.
Đều có N quán và nơi ĐKKTT: thôn TK, xã ĐT, huyện UH, thành phố Hà Nội.
(Chị H có đơn xin vắng mặt;anh H1vắng mặt không có lý do)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn, biên bản lấy lời khaicùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án,chị Nguyễn Thị H là N đơn trình bày: Chị và anh Nguyễn Kế H1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐT năm 2019. Quá trình vợ chồng chung sống với nhau được khoảng 2, 3 tháng thì phát sinh mâu thuẫn, N nhân là do bất đồng quan điểm trong cuộc sống, không tìm được tiếng nói chung, mặc dù hai vợ chồng đã rất cố gắng tìm cách giải quyết nhưng tình trạng vẫn không thay đổi được, mâu thuẫn ngày càng trở nên căng thẳng hơn. Anh H1 lười lao động, mải chơi, không tu chí làm ăn, kiếm tiền lo trang trải cuộc sống cùng chị, anh H1 không chăm lo cho vợ con và gia đình hay nói cách khác anh H1 rất vô trách nhiệm. Vì mâu thuẫn vợ chồng cẳng thẳng nên vợ chồng chị đã sống ly thân khoảng 01 năm nay, không ai quan tâm đến ai. Nay chị nhận thấy chị không còn tình cảm gì với anh H1 nữa, mâu thuẫn vợ chồng chị cũng quá trầm trọng, chị không thể tiếp tục chung sống với anh H1 được nữa, chị làm đơn xin được ly hôn với anh H1 để ổn định cuộc sống mới.
Về con chung: Chị và anh H1 có 01 con chung: Nguyễn Khôi N – sinh ngày 29/02/2020. Hiện nay, cháu đang ở với chị. Khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi con chung và không yêu cầu anh H1 phải cấp dưỡng nuôi con cho chị.
Hiện nay,chị đang làm giáo viên mầm non trường Mầm Non Thần Đồng nội thành Hà Nội. Thu nhập bình quân 1 tháng của chị là khoảng 6.500.000 đồng/ tháng.
Về tài sản chung, công nợ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Chị đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải hai vợ chồng chị vì chị cương quyết giữ N quan điểm xin được ly hôn với anh H1, chị bận công việc nên để tránh mất thời gian của các bên và của Tòa án chị đề nghị Tòa không tiến hành hòa giải.
Bị đơn anh Nguyễn Kế H1: Không có ý kiến trình bày gì.
Tại biên bản xác minh ngày 18/3/2021, chính quyền địa phương xã ĐT cung cấp:Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Kế H1 là người cùng làng ở thôn TK, xã ĐT, huyện UH, thành phố Hà Nội. Chị H và anh H1 tự nguyện kết hôn, có đăng ký tại UBND xã ĐT ngày 6/9/2019. Sau khi kết hôn chị H chuyển hộ khẩu và chuyển về chung sống cùng anh H1 tại nhà anh H1. Mâu thuẫn vợ chồng anh H1 chị H cụ thể như thế nào chính quyền địa phương không nắm được. Chính quyền địa phương chỉ biết chị H và anh H1 có mâu thuẫn, hiện hai vợ chồng đang sống ly thân mấy tháng nay. Chị H và anh H1 có 01 con chung là Nguyễn Khôi N, sinh ngày 29/02/2020. Hiện nay, cháu N đang ở với chị H. Nay chị H có đơn xin ly hôn anh H1, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật đảm bảo quyền lợi cho các công dân.
Về nơi cư trú của anh H1: anh H1 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn TK, xã ĐT, huyện UH, thành phố Hà Nội nhưng thời điểm gần đây anh H1 không thường xuyên sinh sống tại địa phương, chính quyền địa phương không rõ anh H1 ở đâu, làm gì, thời điểm trở về địa phương của anh H1 là khi nào, do đó việc tống đạt trực tiếp các văn bản tố tụng của Tòa án đối với anh H1 không thực hiện được, chính quyền địa phương đã tiến hành niêm yết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, chị H và anh H1 đều vắng mặt, chị H có đơn trình bày quan điểmvẫn giữ N ý kiến như nội dung trình bày tại Tòa trước đây vàkhông xuất trình thêm tài liệu chứng cứ nào khác.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện UHphát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thực hiện đầy đủ các quy định về tố tụng dân sự như tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho các đương sự, tạo điều kiện cho họ được trình bày quan điểm, tiến hành hòa giải theo đúng quy định nhưng không hòa giải được vì lý do bị đơn vẫn vắng mặt không có lý do chính đáng mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai. Hội đồng tiến hành xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật. Về nội dung vụ án: đề nghị Tòa giải quyết cho chị Hđược ly hôn với anh H1; giao con chung cho chị H trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục;chị Hphải nộp án phí ly hôn theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiªn cøu c¸c tµi liÖu cã trong hå s¬ vô ¸n ® îc thÈm tra t¹i phiªn Toµ vµ c¨n cø vµo kÕt qu¶ tranh luËn t¹i phiªn toµ, ý kiÕn cña c¸c ® ¬ng sù, Héi ®ång xÐt xö nhËn ®Þnh:
Về tố tụng: Chị Nguyễn Thị Hlàm đơn ly hôn và đã đóng dự phí ly hôn theo đúng quy định của pháp luật. Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân và gia đình, Tòa án nhân dân huyện UH tiến hành thụ lý, giải quyết theo đúng thẩm quyền, Tòa án đã triệu tập anh H1đến Tòa để hòa giải cũng như tham gia phiên tòa nhưng anh H1không chấp hành, chị Hcó đơn xin vắng mặt tại phiên tòa nên Tòa án xét xử vắng mặt N đơn, bị đơn theo đúng quy định tại Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị H và anh Nguyễn Kế H1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã ĐT, huyệnUHngày 06/9/2019là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống hai vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, N nhân theo chị H trình bày là do anh H1lười lao động, mải chơi, không tu chí làm ăn, kiếm tiền lo trang trải cuộc sống cùng chị, anh H1 không chăm lo cho vợ con và gia đình hay nói cách khác anh H1 rất vô trách nhiệm, từ đó dẫn đến hai vợ chồng mâu thuẫn căng thẳng, trầm trọng, không tìm được tiếng nói chung. Hai vợ chồng đã có thời gian sống ly thân01 năm nay, chị H cương quyết xin được ly hôn với anh H1.Phía anh H1 trong suốt quá trình hòa giải và phiên tòaanh H1 không đến Tòa để thể hiện nguyện vọng không có lý do chính đáng.
Hội đồng xét xử thấy, mâu thuẫn giữa vợ chồng anh H1với chị H là căng thẳng, có thời gian sống ly thân dài, hôn nhân giữa hai vợ chồng đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên xử chấp nhận đơn ly hôn của chị H, xử cho chị Hđược ly hôn với anh H1 là phù hợp với quy định củaKhoản 1 Điều 56Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về con chung: Anh H1 và chị Hcó 01 con chung là Nguyễn Khôi N, sinh ngày 29/02/2020. Hiện tại,cháu đang ở với chị H. Chị H có nguyện vọng sau khi ly hôn chị được nuôi dưỡng con chung và chị không yêu cầu anh H1phải cấp dưỡng nuôi con cho chị.Xét, hiện nay con chung đang ở với chị H, con chung mới được 14 tháng tuổi, chưa đủ 36 tháng tuổi, còn quá nhỏ; anh H1không có mặt ở Tòa để trình bày nguyện vọng, hiện nay chị H đang làm giáo viên tại trường mầm non có thu nhập 6.500.000 đồng/ tháng, chị H có đủ điều kiện để nuôi dưỡng, chăm sóc con chung nên giao con chungcho chị H trực tiếp chăm sóc, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật; chị H không yêu cầu nên tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh H1 cho đến khi có yêu cầu hoặc có thay đổi mới là phù hợp với quy định của pháp luật.
Về tài sản và công nợ chung: Chị Hkhông yêu cầu đề nghị Tòa giải quyết.
Về án phí và quyền kháng cáo: Chị H phải nộp án phí, N đơn và bị đơn đều có quyền kháng cáotheo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 39 Bộ luật dân sự (năm 2015) và căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81; Điều 82, Điều 83Luật Hôn nhân và gia đình (năm 2014); khoản 4 Điều 147; Điều 228; Điều 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng Dân sự (năm 2015); Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, xử:
1.Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Hđược ly hônanh Nguyễn Kế H1.
2.Về con chung: Chị Nguyễn Thị Hvà anh Nguyễn Kế H1có 01con chung là: Nguyễn Khôi N, sinh ngày 29/02/2020. Giao con chungNguyễn Khôi Ncho chị H là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc và giáo dục. Tạm hoãn nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con đối với anh H1cho đến khi có yêu cầu hoặc có thay đổi khác.
Sau ly hôn anh H1 có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
“Cha, mÑ kh«ng trùc tiÕp nu«i con l¹m dông viÖc th¨m nom ®Ó c¶n trë hoÆc g©y ¶nh h ëng xÊu ®Õn viÖc tr«ng nom, ch¨m sãc, nu«i d ìng, gi¸o dôc con th× ng êi trùc tiÕp nu«i con cã quyÒn yªu cÇu Toµ ¸n h¹n chÕ quyÒn th¨m nom con cña ng êi ®ã”.
3.Về tài sản, công sức, công nợ chung : Chị Nguyễn Thị Hkhông yêu cầu giải quyết.
4.Về án phí: Chị Nguyễn Thị Hphải nộp 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0002066ngày 15 tháng 3 năm 2021 tại Chi cục Thi hành án Dân sự huyện UH, thành phố Hà Nội.
5.Về quyền kháng cáo: N đơn và bị đơn đều có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND xã (phường) nơi cư trú đối với người vắng mặt./. Thµnh viªn Héi ®ång xÐt xö
ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ N¬i nhËn:
| - TAND TP Hµ Néi; - VKSND huyÖn - Chi côc THADS huyệnUH; - UBND xã nơi ĐKKH; - C¸c ® ¬ng sù; - L u h/s; v/p./. Thµnh viªn Héi ®ång xÐt xö Thµnh viªn Héi ®ång xÐt xö | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Tô Thanh Phong ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ ThÈm ph¸n - Chñ to¹ phiªn toµ |