- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn"
- Tòa quyết gì? I. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con của bà Nguyễn Thị Thanh B đối với ông Bùi Minh A.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân; Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2021/HNGĐ-ST Ngày: 04-5-2021 V/v ly hôn. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DẦU TIẾNG, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Vũ Anh Tuấn.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hồ Đắc Minh;
2. Bà Nguyễn Thị Lệ Mỹ.
- Thư ký phiên tòa: Ông Ngô Nguyễn Minh Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Bà Đinh Thị Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 5 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 692/2020/TLST-HNGĐ ngày 25 tháng 12 năm 2020 về việc ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 15/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 16 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh B, sinh năm 1977; HKTT: Số 143 đường 20/8, khu phố X, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.
2. Bị đơn: Ông Bùi Minh A, sinh năm 1975; HKTT: Số 143, khu phố X, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/12/2020 và trong quá trình tham gia tố tụng nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh B có ý kiến:
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh B và ông Bùi Minh A chung sống với nhau từ năm 2002. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 12/4/2002 tại Ủy ban nhân dân xã L, thành phố H, tỉnh Đồng Nai.
Trong quá trình chung sống, vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do hai bên bất đồng quan điểm sống, ông A thường xuyên uống rượu, có hành vi bạo lực gia đình, đập phá, hủy hoại tài sản trong gia đình. Hiện nay, bà B thấy rằng tình trạng hôn nhân đã ở mức trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu được ly hôn với ông A.
- Về con chung: Quá trình chung sống bà B và ông A có 01 con chung tên Bùi Minh P, sinh ngày 10/12/2002. Con chung đã trưởng thành nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại bản tự khai ngày 31/12/2020 và trong quá trình tham gia tố tụng, bị đơn là ông Bùi Minh A có ý kiến:
Ông A thừa nhận việc mâu thuẫn giữa ông A và bà B xuất phát từ việc ông A thường xuyên ống rượu. Tuy nhiên, ông A không đồng ý ly hôn, vì ông còn thương yêu vợ con.
Quá trình tiến hành tố tụng, ông Bùi Minh A được triệu tập hợp lệ đến để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tuy nhiên, ông A không chấp hành giấy triệu tập của Tòa án, tự ý bỏ về và không ký các biên bản làm việc.
Tại biên bản lấy lời khai ngày 01/3/2021 đối với Bùi Minh P, sinh ngày 10/12/2002 (là con chung của ông Bùi Minh A và bà Nguyễn Thị Thanh B) thể hiện:
Cháu Bùi Minh P xác định nguyên nhân mâu thuẫn giữa bà B và ông A là do ông A thường xuyên uống rượu, về nhà có hành vi bạo lực gia đình, hủy hoại tài sản. Mâu thuẫn đã kéo dài hơn 03 năm.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Dầu Tiếng có ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Thư ký đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Tòa án đã tiến hành thu thập chứng cứ, tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ, đúng trình tự, người tham gia tố tụng đúng thành phần. Phiên tòa được tiến hành đúng trình tự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định của pháp luật tố tụng, bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn. Không kiến nghị khắc phục, bổ sung về thủ tục tố tụng.
Về nội dung vụ án: Các tài liệu, chứng cứ được Hội đồng xét xử làm rõ tại phiên tòa cho thấy yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Chứng cứ được Hội đồng xét xử xem xét gồm:
Đơn xin ly hôn ngày 23/12/2020; bản sao giấy chứng minh nhân dân và sổ hộ khẩu; bản sao giấy khai sinh Bùi Minh P; giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; bản tự khai; Đơn xin giải quyết vắng mặt và đơn đề nghị không hòa giải của bà Nguyễn Thị Thanh B; bản tự khai của ông Bùi Minh A; Biên bản lấy lời khai Bùi Minh P ngày 01/3/2021; Bản cam kết ngày 13/9/2019 do ông Bùi Minh A viết; hồ sơ xử phạt vi phạm hành chính về hành vi say rượu bia gây rối trật tự công cộng ngày 21/7/2019 và ngày 16/3/2021.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Từ những tài liệu chứng cứ đã thu thập có trong hồ sơ. Sau khi xem xét, thảo luận, Hội đồng xét xử nhận định,
Về tố tụng:
Quá trình tham gia tố tụng, nguyên đơn có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt. Việc vắng mặt của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị đơn được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Việc vắng mặt của bị đơn là cố tình nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn, bị đơn theo quy định tại Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Nguyên đơn khởi kiện bị đơn về việc ly hôn. Bị đơn là Bùi Minh A có nơi cư trú tại khu phố 6, thị trấn Dầu Tiếng, huyện Dầu Tiếng nên vụ án thuộc thẩm quyền thụ lý, giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Dầu Tiếng theo quy định tại các Điều 28, 35, 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp ly hôn”.
Về nội dung vụ án:
Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn chung sống với nhau từ năm 2002. Hôn nhân tự nguyện, có tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật vào ngày 12/4/2002 tại Ủy ban nhân dân xã Long Bình, thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai. Quá trình chung sống, giữa vợ chồng thường xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân là do bị đơn thường xuyên uống rượu say, sau đó về nhà gây hấn, đập phá đồ đạc trong gia đình. Nguyên đơn xác định mâu thuẫn đã trầm trọng, không hàn gắn được. Để chứng minh cho việc nguyên đơn, bị đơn đã hàn gắn nhưng không thành, nguyên đơn cung cấp bản cam kết do chính bị đơn viết ngày 13/9/2019. Nguyên đơn xác định không còn tình cảm và đã không còn chung sống cùng bị đơn nên yêu cầu được giải quyết ly hôn. Theo quy định tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình; vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác…và lý do chính đáng khác. Nguyên đơn và bị đơn không có thỏa thuận với nhau về việc mỗi người sống một nơi, nhưng bị đơn đã không sống chung cùng nguyên đơn trong một thời gian dài. Quá trình làm việc, bị đơn cũng xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do bị đơn thường xuyên uống rượu bia. Nhưng bị đơn không đồng ý ly hôn vì còn thương yêu vợ con. Bị đơn không cung cấp được chứng cứ để chứng minh cho lời trình bày của mình. Mặc khác, quá trình tiến hành tố tụng, Tòa án tiến hành ghi nhận lời khai của Bùi Minh P là con chung của nguyên đơn và bị đơn, cháu Phú xác định nguyên nhân mâu thuẫn là do bị đơn uống rượu bia về đập phá đồ đạc trong gia đình. Ngoài ra, bị đơn còn bị xử phạt hành chính về hành vi say rượu bia gây rối trật tự công cộng. Như vậy, lời trình bày của nguyên đơn là có căn cứ. Hội đồng xét xử nhận thấy mâu thuẫn giữa nguyên đơn, bị đơn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Do đó, yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận.
Về con chung: Nguyên đơn và bị đơn có 01 con chung tên Bùi Minh P, sinh ngày 10/12/2002. Con chung đã trưởng thành, nguyên đơn không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, bị đơn không tranh chấp về tài sản chung, nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
kiến của đại diện Viện Kiểm sát về nội dung vụ án, các thủ tục tố tụng, quá trình tiến hành tố tụng cũng như diễn biến tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật nên hội đồng xét xử chấp nhận.
Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228, 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân; các Điều 9, 19, 55, 56 của Luật Hôn nhân và gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
I. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con, cấp dưỡng nuôi con của bà Nguyễn Thị Thanh B đối với ông Bùi Minh A.
1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh B được ly hôn với ông Bùi Minh A.
2. Về con chung: Con chung đã trưởng thành. Bà Nguyễn Thị Thanh B không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Bà Nguyễn Thị Thanh B không tranh chấp, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
II. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm:
Án phí ly hôn: Bà Nguyễn Thị Thanh B phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng), được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm đã nộp theo biên lai thu số AA/2016/0045528 ngày 23 tháng 12 năm 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Dầu Tiếng, tỉnh Bình Dương.
Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Dương; - VKSND tỉnh Bình Dương; - VKSND huyện Dầu Tiếng; - CC THA DS huyện Dầu Tiếng; - UBND xã L, thành phố H, tỉnh Đồng Nai; - Các đương sự; - Lưu: Hồ sơ, VT. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Vũ Anh Tuấn |