vanban.org

Bản án 20/2021/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng tín dụng

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn T. Buộc bị đơn ông Huỳnh Tấn T trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T số tiền vốn gốc 23.

Kể từ ngày 30/3/2021, nếu ông Huỳnh Tấn T không thanh toán số tiền trên cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T, thì ông Huỳnh Tấn T còn phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc. 2/ Về … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "hợp đồng tín dụng"
  • Tòa quyết gì? 1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn T. Buộc bị đơn ông Huỳnh Tấn T trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T số tiền vốn gốc 23.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG PHÚ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2021/DS-ST
Ngày: 29/3/2021
V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG PHÚ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chiêm Ngọc Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Nguyễn Thanh Rực.

2/ Ông Thạch Thanh Tâm.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh – Thư ký Toà án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng.

Trong ngày 29/3/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 246/2020/TLST-DS ngày 02/12/2020 về tranh hợp đồng tín dụng, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2021/QĐXXST-DS ngày 23/02/2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Sài Gòn T.

Địa chỉ: Số A đường N, Quận 3, TP. Hồ Chí Minh.

* Người đại diện hợp pháp: Ông Trang Thành T, sinh năm 1987. Giám đốc Ngân hàng TMCP Sài Gòn T, Chi nhánh P. Địa chỉ: Đường Đ, ấp 2, thị trấn P, huyện P, tỉnh Sóc Trăng, là người đại diện theo ủy quyền (văn bản ủy quyền ngày 28/12/2020) (có mặt).

- Bị đơn: Ông Huỳnh Tấn T, sinh năm 1993 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp T, xã K, huyện P, tỉnh Sóc Trăng

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện lập ngày 06/11/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn T (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) trình bày: Ngày 15/3/2019, ông Huỳnh Tấn T có ký với Ngân hàng hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng, hạn mức tín dụng là 20.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Cụ thể như sau: Loại thẻ JCB, số thẻ 356480-9698, hạn mức 20.000.000 đồng, lãi suất áp dụng 2.5%/tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Huỳnh Tấn T đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 22.304.000 đồng.

Lãi được tính trên từng giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Đến ngày 15/8/2019 Ngân hàng điều chỉnh lãi suất là 2.6%/tháng. Ông Huỳnh Tấn T phải chịu các khoản phí theo quy định trong Điều 24 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.

Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến nay ông Huỳnh Tấn T đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền 4.906.700 đồng. Tổng số tiền trên được thanh toán áp dụng theo điều 20 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở nhưng ông Huỳnh Tấn T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Huỳnh Tấn T vi phạm nghĩa vụ thanh toán, ngày 23/11/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dự nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 23.409.181 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Do ông Huỳnh Tấn T vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo Điều 2 của bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng nên Ngân hàng TMCP Sài Gòn T yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Huỳnh Tấn T trả cho Ngân hàng tổng số tiền tính đến ngày 29/3/2021 là 38.412.157 đồng (Trong đó dư nợ là 23.409.181 đồng và lãi quá hạn 15.002.976 đồng) và có trách nhiệm thanh toán khoản lãi phát sinh từ ngày 30/3/2021 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng.

- Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông Huỳnh Tấn T, nhưng ông T không có văn bản trình bày ý kiến, không đến Tòa án cung cấp lời khai, không đến tham dự buổi hòa giải cũng như không đến phiên tòa để trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Bị đơn ông Huỳnh Tấn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt ông T.

Xét yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP T, Hội đồng xét xử thấy rằng: Vào ngày 15/3/2019 ông T có ký kết hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng, hạn mức tín dụng 20.000.000 đồng, mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất áp dụng 2.5%/tháng, loại thẻ JCB, số thẻ 356480-9698 (bút lục 13). Lãi được tính trên từng lần giao dịch phát sinh theo từng ngày và theo lãi suất Ngân hàng áp dụng vào từng thời điểm khác nhau (Điều 22 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Đến ngày 15/8/2019 Ngân hàng điều chỉnh lãi suất là 2.6%/tháng, ông T phải chịu các khoản phí theo quy định tại Điều 24 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng, chi tiết lãi, phí trong sao kê tóm tắt.

Từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông T đã thanh toán cho Ngân hàng 4.906.700 đồng (bút lục 12). Tổng số tiền trên được thanh toán theo Điều 20 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Qua nhiều lần nhắc nhở ông T vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông T vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 23/11/2019 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 22 của bản điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu trong thời điểm này là 23.409.181 đồng làm nợ gốc, áp dụng lãi suất nợ quá hạn là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Nên Ngân hàng yêu cầu ông T trả số tiền tính đến ngày 29/3/2021 là 38.412.157 đồng (Trong đó dư nợ là 23.409.181 đồng và lãi quá hạn 15.002.976 đồng) và có trách nhiệm thanh toán lãi phát sinh từ ngày 30/3/2021 đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng. Xét thấy, việc ông T không thực hiện nghĩa vụ trả tiếp dư nợ và lãi theo giao kết trong hợp đồng đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán trong Hợp đồng tín dụng mà các bên đã ký kết, ông T là người có lỗi và là người vi phạm hợp đồng nên phải chịu mọi hậu quả theo giao kết và theo quy định của pháp luật. Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho ông T, có nội dung Ngân hàng khởi kiện đòi ông T trả số tiền vốn và lãi vay như trên, nhưng ông T không có văn bản trình bày ý kiến và cũng không phản đối những tình tiết, sự kiện do Ngân hàng xuất trình, nên căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 92 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử xác định ông T có nợ Ngân hàng số tiền 38.412.157 đồng (Trong đó dư nợ là 23.409.181 đồng và lãi quá hạn 15.002.976 đồng), nên Ngân hàng yêu cầu ông T trả số nợ nên trên phù hợp với quy định tại định tại 95 Luật Các tổ chức tín dụng. Xét thấy, mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng tại thời điểm xác lập là phù hợp theo quy định tại Điều 11 của Quy chế cho vay của các tổ chức tín dụng đối với khách hàng do Ngân hàng Nhà Nước ban hành và Điều 1 và Điều 2 Thông tư số 12/2010/TT-NHNN ngày 14/04/2010 của Thống đốc Ngân hàng Nhà Nước hướng dẫn tổ chức tín dụng cho vay bằng đồng Việt Nam đối với khách hàng theo lãi suất thỏa thuận, số tiền lãi theo yêu cầu nêu trên, Ngân hàng đã áp dụng tính tiền lãi đúng theo mức lãi suất mà các bên đã thỏa thuận trong Hợp đồng tín dụng. Do vậy, Ngân hàng yêu cầu ông T có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng tổng số tiền vốn và lãi tính đến ngày 30/3/2021 là 38.412.157 đồng là có căn cứ.

Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu của nguyên đơn là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Kể từ ngày 30/3/2021, nếu ông Huỳnh Tấn T không thanh toán số tiền trên cho Ngân hàng, thì ông T còn phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất trong hợp đồng tín dụng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ vào khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị đơn ông Huỳnh Tấn T phải chịu 1.920.607 đồng án phí sơ thẩm, nguyên đơn Ngân hàng không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 92, khoản 1 Điều 147, b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và khoản 3 Điều 235, khoản 1 Điều 244, Điều 271, khoản 1 Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật thi hành án dân sự.

Tuyên xử:

1/ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn T. Buộc bị đơn ông Huỳnh Tấn T trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T số tiền vốn gốc 23.409.181 đồng và lãi quá hạn 15.002.976 đồng, tổng cộng 38.412.157 đồng (Ba mươi tám triệu, bốn trăm mười hai nghìn, một trăm năm mươi bảy đồng).

Kể từ ngày 30/3/2021, nếu ông Huỳnh Tấn T không thanh toán số tiền trên cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T, thì ông Huỳnh Tấn T còn phải tiếp tục trả tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán, theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc.

2/ Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Huỳnh Tấn T phải chịu 1.920.607 đồng (Một triệu chín trăm hai mươi nghìn, sáu trăm lẻ bảy đồng).

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP Sài Gòn T không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Sài Gòn T số tiền tạm ứng án phí đã nộp 824.120 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0008081, ngày 01/12/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện P, tỉnh Sóc Trăng.

3/ Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết hợp lệ, để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ