- Tranh chấp gì? án dân sự — "Bị cáo Lại Duy Q phạm tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lại Duy Q (Tên gọi khác: Tèo) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH LÂM ĐỒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2020/HS-ST Ngày: 07-7-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ – TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Diễm
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Đinh Trọng Hà
2/ Bà Nguyễn Thị Kim Q
- Thư ký phiên tòa: Ông Nghiêm Văn Hải – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa: Bà Đỗ Thị Thúy Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2020 tại Nhà văn hóa xã Đạ Kho, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm lưu động công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2020/TLST-HS ngày 12 tháng 6 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2020/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2020 đối với:
* Bị cáo Lại Duy Q (Tên gọi khác: T) – Sinh ngày 14 tháng 4 năm 1990, tại: Lâm Đồng; Nơi cư trú: TDP C, TT Đ, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Phụ hồ; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lại Duy X – sinh năm 1956 và bà Trần Thị L – sinh năm 1956; Vợ: Đỗ Thị H - Sinh năm 1992; Con: Có 02 con, con nhỏ sinh năm 2014 và con lớn sinh năm 2012; Tiền sự: Không;
Tiền án: Ngày 10 tháng 4 năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Về nhân thân: Ngày 12 tháng 4 năm 2016 bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Vận chuyển trái phép chất ma túy”; Ngày 19 tháng 10 năm 2017 bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”; Ngày 24 tháng 10 năm 2017 bị Công an huyện Đ xử phạt hành chính số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 20 tháng 3 năm 2020 bị Công an huyện Đ lập biên bản hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy và đang chuyển hồ sơ đề nghị Ủy ban nhân dân thị trấn Đ áp dụng biện pháp giáo dục tại thị trấn.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 15/4/2020 đến ngày 18/4/2020; bị tạm giam từ ngày 18/4/2020. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. “Có mặt”.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ 00 phút ngày 15/04/2020, lực lượng Cảnh sát giao thông Công an huyện Đ thực hiện công tác tuần tra, kiểm soát giao thông trên địa bàn huyện Đ phát hiện Lại Duy Q điều khiển xe mô tô đi từ hướng huyện Đ1 vào huyện Đ có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu dừng xe để kiểm tra. Quá trình kiểm tra, Q tự lấy trong túi quần phía trước bên phải ra một tờ tiền mệnh giá 5.000đ (Năm ngàn đồng) được cuộn tròn, bên trong tờ tiền có một túi nylon chứa chất bột dạng cục màu trắng, nên tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và thu giữ tang vật theo quy định.
Quá trình điều tra xác định: Lại Duy Q bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2014 và đã được Trung tâm y tế huyện Đ xác định tình trạng nghiện. Khoảng 08 giờ 00 phút ngày 15/04/2020, Q điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 49M1-154.64 đến khu vực xã M, huyện Đ1, tỉnh Lâm Đồng tìm gặp người tên T1 (không rõ nhân thân, lai lịch) để mua ma túy. Q mua của T1 với số tiền 300.000đ heroin đựng trong 01 túi nylon, một đầu buộc túm lại, một đầu bị rách, bên trong có chứa chất bột dạng cục màu trắng. Thấy vậy, Q lấy 01 tờ tiền mệnh giá 5.000 đồng cuộn tròn, gói túi ma tuý lại rồi cất vào túi quần và điều khiển xe mô tô theo đường tỉnh lộ ĐT 721 về huyện Đ. Khi đến địa bàn thuộc Thôn B, xã Đ2, huyện Đ thì bị lực lượng Cảnh sát giao thông Công an huyện Đ kiểm tra và phát hiện Q có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy nên lập biên bản phạm tội quả tang, thu giữ tờ tiền mệnh giá 5.000đ cuộn tròn, bên trong tờ tiền có 01 túi ma túy và 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius biển số 49M1-154.64 mà Q điều khiển.
Ngày 15/04/2020, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã trưng cầu giám định đối với túi nylon chứa tinh thể màu trắng đã thu giữ của Lại Duy Q. Tại Kết luận giám định số 720/GĐ-PC09 ngày 17/04/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Lâm Đồng kết luận: Mẫu tinh thể đựng trong một túi nylon được niêm phong gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,5235g (không phảy năm hai ba mươi năm gam), loại heroine.
Tại bản cáo trạng số 20/CT-VKSĐT ngày 11/6/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ truy tố bị cáo Lại Duy Q về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về hình phạt: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38. Xử phạt bị cáo Lại Duy Q từ 30 (Ba mươi) tháng đến 36 (Ba mươi sáu) tháng tù và không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về xử lý vật chứng và án phí.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của bản cáo trạng truy tố và nhất trí với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Q đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và thừa nhận: Ngày 15/04/2020, Lại Duy Q điều khiển xe mô tô hiệu Yamaha sirius, biển số 49M1-154.64 đi đến khu vực xã M, huyện Đ1, tỉnh Lâm Đồng để mua 0,5235g heroine của một người không rõ lai lịch về sử dụng. Qua lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với những tài liệu chứng cứ đã được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi của bị cáo Q đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.
Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, hành vi ấy đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy, đồng thời là nguyên nhân làm gia tăng những tệ nạn xã hội và các tội phạm hình sự; gây tác hại cho sức khỏe và gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma túy gây ra là nguy hiểm cho bản thân và cộng đồng tuy nhiên bị cáo bất chấp pháp luật nghiêm cấm, cố tình mua ma túy để sử dụng. Bản thân bị cáo bị nghiện ma túy, trong thời gian từ năm 2016 đến 2017 bị cáo liên tục bị xử lý hành chính cụ thể: 02 lần xử lý hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” và 01 lần bị xử lý hành chính liên quan đến các chất ma túy. Đặc biệt hơn, bị cáo có 01 tiền án, ngày 10 tháng 4 năm 2018 bị Tòa án nhân dân huyện Đ xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 20 tháng 3 năm 2020 bị Công huyện Đ lập biên bản hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo không lấy đó làm bài học để sửa chữa cho bản thân nhưng đến ngày 15/04/2020 bị cáo tiếp tục đi mua ma túy về sử dụng, do đó bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự. Vì vậy, cần phải áp dụng một mức hình phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo và nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung. Tuy nhiên, khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo, vì bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ sự ăn năn hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự.
Trong vụ án này còn có T1 là người đã bán ma túy cho bị cáo, cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không xác định được nhân thân, lai lịch cụ thể và chưa làm rõ được hành vi của T1 nên không đủ cơ sở xử lý.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ:
- 0,5235 gam heroin, sau khi đã sử dụng giám định và lưu mẫu đối chứng đã hoàn lại 0,2689g cùng phong bì đựng mẫu vật. Xét thấy, vật chứng trên là vật chứng cấm lưu hành và không còn giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
-01 (một) xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, đen BKS 49M1-154.64, số máy E3-X9E265040, số khung HY093533, xe không có yếm, xe đã qua sử dụng và giấy đăng ký xe số 008819 mang tên Lại Duy Q. Xét thấy, chiếc xe mô tô và giấy đăng ký xe mô tô này là tài sản hợp pháp của bị cáo Q, không liên quan đến hành vi phạm tội, do vậy cần trả lại cho bị cáo Q là phù hợp.
Ngoài ra, Cơ quan điều tra còn thu giữ: Số tiền 195.000 đồng trong túi quần của Q. Số tiền trên đang được tạm gửi tại tài khoản tiền gửi của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ. Số tiền trên không liên quan đến hành vi phạm tội, do vậy cần trả lại cho bị cáo Q là phù hợp.
- 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5.000 đồng, bị cáo sử dụng để gói ma túy, tờ tiền được niêm phong có dấu tròn màu đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra đang lưu kèm theo hồ sơ, xét thấy đây là vật chứng liên quan đến việc tàng trữ trái phép chất ma túy tuy nhiên là tờ tiền Việt Nam do vậy cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án là phù hợp.
Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lại Duy Q (Tên gọi khác: Tèo) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lại Duy Q 36 (ba mươi sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 15 tháng 4 năm 2020.
2. Về vật chứng của vụ án:
- Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 0,5235 gam heroin, sau khi đã sử dụng giám định và lưu mẫu đối chứng đã hoàn lại 0,2689g cùng phong bì đựng mẫu vật.
- Căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Lại Duy Q 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đỏ, đen BKS 49M1-154.64, số máy E3-X9E265040, số khung HY093533, xe không có yếm, xe đã qua sử dụng và giấy đăng ký xe số 008819 mang tên Lại Duy Q.
Trả lại cho bị cáo Q số tiền 195.000 đồng tuy nhiên cần tiếp tục tạm giữ số tiền này để đảm bảo cho việc thi hành án.
- Căn cứ Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) tờ tiền Việt Nam mệnh giá 5.000 đồng (Hiện vật chứng đang tạm giữ theo hồ sơ).
Những vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ theo biên bản giao nhận vật chứng lập ngày 15/6/2020. Đối với số tiền 195.000 đồng trên hiện đang được tạm giữ tại tài khoản của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ số: 3949.0.1098084.00000 mở tại Kho bạc Nhà nước huyện Đ theo giấy ủy nhiệm chi lập ngày 12/6/2020.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số: 326/ 2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Q phải nộp 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Trong thời hạn 15 ngày bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử theo thủ tục phúc thẩm .
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đ; - Công an huyện Đ; - Bị cáo; - Thi hành án dân sự; - Lưu HS. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Đinh Trọng Hà Nguyễn Thị Kim Q | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà (Đã ký tên và đóng dấu) Nguyễn Thị Mỹ Diễm HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Mỹ Diễm |