- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn S - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. 1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật hình sự và Nghị Quyết; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:20/2020/HSST Ngày 26 tháng 02 năm 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:
Ông Nguyễn Hoàng Vũ. Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Lâm
Ông Đỗ Xuân Phi.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Thư ký Tòa án. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Lê Thanh Tráng - Kiểm sát viên. Ngày 26 tháng 02 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng; địa chỉ: Số 48 Trần Xuân Lê, phường Hòa Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 14/2020/TLST-HS ngày 21.01.2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 14/2020/QĐXXST-HS ngày 12.02.2020, đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn S, sinh ngày 30-3-1979 tại thành phố Đà Nẵng; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở hiện nay: Tổ 17, phường H, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 9/12; con ông Nguyễn Th, sinh năm 1938 (còn sống) và bà Phạm Thị C (đã chết); Gia đình có 04 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ là Đinh Thị H (sinh năm 1986), có 03 con, con lớn nhất sinh năm 2011, con nhỏ nhất sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Chưa; Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại: Cháu Trần Thanh Ph (đã chết). Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Ông Trần L, sinh năm 1980 và bà Nguyễn Thị Hoàng O, sinh năm 1983; Địa chỉ: Tổ 49, phường H, quận Cẩm Lệ, thành phố Đà Nẵng (là ba mẹ ruột của cháu Ph). Vắng mặt.
- Nguyên đơn dân sự: Công ty Quản lý V, địa chỉ: Số 19 đường L, phường Phước Ninh, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng. Vắng mặt.
- Bị đơn dân sự: Công ty TNHH Xuất nhập khẩu và Vận tải K; Địa chỉ: Số 128 đường T, phường Hòa Minh, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng. Người đại diện theo pháp luật: Bà Lê Thị Huyền V - chức vụ: Giám đốc. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Trần Xuân Tr, sinh năm:1973; Địa chỉ: Tổ 09, phường T, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, là nhân viên Công ty. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 21 giờ 00 phút ngày 14.7.2019, Nguyễn S điều khiển xe ôtô tải đầu kéo biển kiểm soát 43C-186.36 kéo theo sơmi romóc Biển kiểm soát 43R-022.11 chạy trên đường Trường Chinh hướng thuận chiều về Cầu vượt khác mức Ngã ba Huế. Khi đến ngang trước số nhà 225 đường Trường Chinh thuộc phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, do Nguyễn S ngủ gục dẫn đến không quan sát khi điều khiển nên đầu kéo ô tô tải biển kiểm soát 43C-186.36 leo lên dải phân cách chia hai chiều đường xe chạy riêng biệt của đường Trường Chinh và tông vào cột điện số CS345ABTC làm gãy đổ trụ điện. Hậu quả trụ điện số CS345ABTC ngã sang chiều đường đối diện trúng vào xe mô tô Biển kiểm soát 43C1-057.31 do anh Trần L điều khiển chở theo vợ và con là cháu Trần Thanh Ph (Sinh ngày: 23.9.2014; thời điểm xảy ra tai nạn 4 tuổi 9 tháng 23 ngày) ngồi phía trước và ngồi phía sau là chị Nguyễn Thị Hồng O và cháu Trần Nguyễn Minh T (Sinh năm: 2010) chạy trên đường Trường Chinh theo hướng ngược lại. Lúc này S giật mình thức dậy đạp phanh cho xe dừng lại. Hậu quả: cháu Trần Thanh Ph bị cột điện ngã đè trúng người bị thương nặng và tử vong trên đường đi bệnh viện cấp cứu, anh L bị cột điện ngã trúng tay phải làm gãy xương đốt bàn ngón 3 tay phải, Chị O, Cháu T bị xây xát nhẹ. Vật chứng thu giữ:
- 01 xe ôtô tải đầu kéo biển kiểm soát 43C-186.36 kéo theo sơmi romóc Biển kiểm soát 43R-022.11 do Công ty TNHH Xuất Nhập khẩu và dịch vụ vận tải H đứng tên chủ sở hữu do bà Lê Thị Huyền V là người đại diện theo pháp luật. Ngày 21.8.2019 Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại xe trên cho Trần Xuân Trường là người được bà Lê Thị Huyền V ủy quyền.
- 01 xe mô tô Biển kiểm soát 43C1-057.31 do chị Nguyễn Thị Hồng O đứng tên chủ sở hữu. Ngày 21.8.2019 Cơ quan CSĐT Công an quận Thanh Khê đã trả lại xe trên cho anh Trần L (chị O làm giấy ủy quyền cho anh L giải quyết các vấn đề liên quan đến tai nạn giao thông). Tại kết luận giám định số 86/TgT ngày 20.7.2019 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an TP. Đà Nẵng kết luận: nguyên nhân tử vong của cháu Trần Thanh Ph là do đa chấn thương. Tại kết luận giám định pháp y về thương tích số 301/TgT ngày 23.9.2019 của Trung tâm Pháp y TP. Đà Nẵng kết luận: “1. Dấu hiệu chính qua giám định: Chấn thương gãy xương bàn III tay phải. Đã được phẫu thuật kết hợp xương. Hiện tại xương gãy đã liền can xấu, ảnh hưởng động tác cầm nắm bàn tay. 2. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 19%.”.
- Chị Nguyễn Thị Hồng O và cháu Trần Nguyễn Minh T chỉ bị xây xát nhẹ.
- Nguyễn S có 01 Giấy phép lái xe hạng FC số 460146893975 do Sở Giao thông vận tải tỉnh Thừa Thiên Huế cấp ngày 12.11.2014 được phép điều khiển các loại xe ô tô đầu kéo kéo sơmi rơmóoc.
- Trần L có bằng lái xe hạng A1, cấp ngày 21.11.2005 số 480102485011. Về phần dân sự: Đại diện Công ty H và Nguyễn S đã tự thỏa thuận bồi thường chi phí khắc phục hậu quả cho gia đình bị hại với tổng số tiền 160.000.000 đồng gia đình người bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm và có đơn đề nghị không xử lý hình sự đối với Nguyễn S. Công ty quản lý vận hành điện chiếu sáng công cộng thành phố Đà Nẵng xác định chi phí sửa chữa khắc phục trụ điện số CS345ABTC là 24.420.000 đồng. Đại diện Công ty H và Nguyễn S đã khắc phục xong cho Công ty quản lý vận hành điện chiếu sáng công cộng thành phố Đà Nẵng và Công ty có đơn đề nghị không xử lý hình sự đối với Nguyễn S. Kết quả kiểm tra nồng độ cồn và Biên bản xét nghiệm chất ma túy thể hiện Nguyễn S không có nồng độ cồn và âm tính với chất ma túy. Biên bản khám nghiệm hiện trường: 1- Đường Trường Chinh, đoạn ngang trước nhà số 225 là nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông.
- Đường Trường Chinh là loại đường đôi, thẳng được trải nhựa bằng phẳng, giữa đường có dải phân cách cố định bằng bê tông cao 0,2m rộng 2,0m chia đường làm hai chiều xe chạy riêng biệt, mỗi chiều rộng 10,5cm được chia làm 03 làn đường xe chạy tại đoạn xảy ra tai nạn giao thông có đoạn giao nhau giữa hai đầu dải phân cách rộng 30,0m. 2. Ghi nhận việc đánh dấu số thứ tự theo số tự nhiên vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết:
- Xe môtô Biển kiểm soát 43C1-057.31.
- Vết cày xước thứ nhất để lại trên mặt đường dài 3,30m.
- Vết máu.
- Xe ô tô tải đầu kéo mang Biển kiểm soát 43C-18636 kéo theo sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 43R-02211.
- Vết V hoa lốp thứ nhất để lại trên mặt đường dài 5,1m.
- Vết V hoa lốp thứ hai để lại trên mặt đường dài 6,6m.
- Vết cày xước thứ hai để lại trên mặt đường dài 12,0m.
- Trụ đèn chiếu sáng CS 345 AB TC. 3. Xác định điểm mốc và một trong các mép đường nơi xảy ra tai nạn làm chuẩn:
- Điểm mốc: Từ tâm trục bánh sau xe mô tô Biển kiểm soát 43C1-05731 đo vuông góc về phía Hòa Cầm 21,5m là ngang với đầu dải phân cách cố định, phía Ngã ba Huế làm điểm mốc.
- Mép đường chuẩn: chọn mép đường bên phải đường Trường Chinh theo hướng xe đi thuận chiều từ phía Ngã Ba Huế về phía Hòa Cầm làm mép đường chuẩn để đo vẽ hiện trường. 4. Mô tả theo số thứ tự vị trí nạn nhân, phương tiện, tang vật, dấu vết sau khi xảy ra tai nạn giao thông:
- Xe mô tô mang Biển kiểm soát 43C1-057.31 ngã về trái ở chiều đường xe chạy thuận chiều từ phái Ngã Ba Huế về phía Hòa Cầm và nằm ở làn đường thứ nhất (so với mép đường chuẩn) đầu xe hướng về phiá Hòa Cầm và chếch sang phải. Tâm trục bánh trước cách mép đường chuẩn 0,4m. Tâm trục bánh sau cách mép đường chuẩn 1,1m. Từ đoạn cuối bên trái chân chống giữa xe mô tô Biển kiểm soát 43C1-057.31 về phía bên trái (theo hướng xe đi thuận chiều từ Ngã Ba Huế về Hòa Cầm) là vết máu để lại tại hiện trường.
- Vết cày xước thứ nhất để lại trên mặt đường là vết cày xước không liên tục có chiều hướng từ phía Ngã Ba Huế về phía Hòa Cầm dài 3,3m và chếch sang phải. Điểm bắt đầu vết xước cách mép đường chuẩn 1,5m. Điểm kết thúc vết xước nằm dưới đoạn bên trái chân chính giữa xe mô tô Biển kiểm soát 43C1-186.36 ngã trên mặt đường.
- Vết máu để lại trên mặt đường có hình dạng phức tạp nằm trên diện 1,70m x 0,80m. Tâm vết máu cách mép đường chuẩn 2,20m.
- Xe ô tô tải đầu kéo 43C-186.36 kéo thoe sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 43R-022.11 dừng lại ở hiện trường và nằm chắn ngang chiều đường xe chạy thuận chiều từ Ngã Ba Huế về Hòa Cầm nằm ở làn đường thứ hai, thứ ba (so với mép đường chuẩn) và trên dải phân cách cố định. Đầu xe hướng về phía Ngã Ba Huế và chếch sang trái. Tâm trục bánh xe trước bên trái ô tô tải đầu kéo Biển kiểm soát 43C-186.36 cách mép đường chuẩn 3,2m. Tâm trục bánh sau cuối bên trái xe ô tô tải đầu kéo Biển kiểm soát 43C-186.36 cách mép đường chuẩn 5,9m. Tâm trục bánh sau cuối bên trái sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 43R-022.11 cách mép đường chuẩn 10,3m. Từ tâm trục bánh cuối bên trái của rơ mooc Biển kiểm soát 43R-022.11 về phía Hòa Cầm là vết V hoa lốp thứ nhất. Từ tâm trục bánh cuối bên phải của rơ mooc Biển kiểm soát 43R-022.11 về phía Hòa Cầm là vết V hoa lốp thứ hai từ bánh cuối bên trái sơ mi rơ mooc về phía Hòa Cầm 2,8m là vị trí ban đầu đèn CS345 ABTC.
- Vết lốp thứ nhất để lại trên mặt đường và bề mặt taluy dải phân cách dài 5,1m liên tục có chiều hướng từ phía Hòa Cầm về phía Ngã Ba Huế và chếch về trái. Điểm bắt đầu của vết cách mép đường chuẩn 13,1m. Điểm kết thúc của vết nằm bên dưới trục bánh sau bên phải của sơ mi rơ mooc 43R-022.11.
- Vết lốp thứ hai để lại trên mặt đường và bề mặt taluy dải phân cách dài 6,6m không liên tục có chiều hướng từ phía Hòa Cầm về Ngã Ba Huế và chếch về trái. Điểm bắt đầu của vết cách mép đường chuẩn 12,0m. Điểm kết thúc của vết nằm bên dưới bánh sau bên trái của sơ mi rơ mooc 43R-022.11.
- Vết cày xước thứ nhất để lại trên mặt đường nằm bên dưới gầm xe ô tô tải đầu kéo Biển kiểm soát 43C-186.36 kéo sơ mi rơ mooc 43R022.11 có chiều dài 12m liên tục và chiều hướng từ phía Hòa Cầm về phía Ngã Ba Huế chếch về trái. Điểm bắt đầu vết xước cách mép đường chuẩn 9,3m. Điểm kết thúc của vết xước nằm bên dưới trụ đèn chiếu sáng mắc vào xe ô tô tải đầu kéo 43C-186.36.
- Trụ đèn chiếu sáng CS 345 ABTC bằng kim loại hình trụ dài 8,5m ngã đổ chắn ngang chiều đường xe chạy thuận chiều từ Ngã Ba Huế về Hòa Cầm. Dưới trụ đèn mắc vào bên dưới phía bên trái xe ô tô Biển kiểm soát 43C-186.36. Đầu trụ đèn gác vào lan can sắt giữa đường Trường Chinh và đường sắt Bắc Nam. Tại mặt ngoài hướng về phía Ngã Ba Huế của trụ đèn chiếu sáng (tại vị trí cách khớp nối giữa thân đèn và ngọn đèn 0,50m về phía dưới trụ đèn) có vết trượt làm xước kim loại hướng từ Ngã Ba Huế về Hòa Cầm (từ ngọn đèn về điện đèn) dính lại sơn màu đỏ nằm trên diện 30x5 cm. Điểm giữa cách đất 1,05m, liền kề vết trên có dính lại dấu vết da, lông. Tại khu vực từ đầu dải phân cách phía Ngã Ba Huế đến vị trí của 02 phương tiện là vùng mảnh vỡ rơi vãi trên hiện trường (mảnh kim loại và thủy tinh vỡ). 5. Phương tiện, tang vật, dấu vết và mẫu so sánh thu được, tạm giữ các:
- 01 xe mô tô mang Biển kiểm soát 43C1-057.31;
- 01 xe ô tô tải đầu kéo Biển kiểm soát 43C-186.36 kéo theo sơ mi rơ mooc Biển kiểm soát 43R-022.11. Khám xe Biển kiểm soát 43C186.36. Dấu vết phương tiện: Dấu vết trên phương tiện xe ô tô loại container mang Biển kiểm soát 43C186.36. Lưới nhựa bảo vệ lọc gió phía trước đầu xe (ca lăng) bị bể vỡ rời khỏi vị trí ban đầu. Mặt ngoài phía trước bên trái cản trước có vết xước làm bong sơn khuyết kim loại hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới, từ phải sang trái, kích thước (0,9x0,4)m; điểm cao nhất cách mặt đất 0,7m, điểm thấp nhất cách mặt đất 0,4m. Đoạn giữa cản trước biến dạng móp méo. Mặt ngoài bên trái cản trước có vết xước, trượt làm bong sơn hướng từ trước về sau dính lại chất màu đen và sơn màu đỏ, kích thước (0,4x0,54)m; điểm cao nhất cách mặt đất 0,7m; điểm thấp nhất cách mặt đất 0,2m. Phần ngoài cùng bên trái cản trước bị rách vỡ rời khỏi vị trí ban đầu. Mặt ngoài ốp nhựa bên trái đầu mũi xe (tai xe) có vết bể rách rời khỏi vị trí ban đầu kích thước (1,1x1,2)m. Mặt ngoài đoạn ½ trên của phần còn lại có vết trượt hướng từ trước về sau, dính lại sơn màu đỏ xám, kích thước (1,3x0,5)m; điểm cao nhất cách mặt đất 1,7m; điểm thấp nhất cách mặt đất 1,1m. Trục bánh xe đầu tiên bị di lệch khỏi vị trí ban đầu hướng từ trước về sau. Mặt ngoài đoạn trước má phanh (bàn tay thắng) có vết xước kim loại hướng từ trước về sau, từ trên xuống dưới kích thước (0,15x0,1)m. Mặt ngoài phía trước đoạn trên bên trái trục bánh xe đầu tiên có vết xước làm khuyết kim loại, kích thước (0,3x0,15)m. Lốp trước tiên bên trái bị xẹp rời khỏi vị trí ban đầu (rời khỏi vành kim loại). Mặt trong hông lốp của bánh lốp trước tiên bên trái tại vị trí cách ký tự “AS668” 15cm ngược chiều kim đồng hồ có vết cắt rách su kích thước (5x7) cm. Bánh lốp trước tiên bên trái bị di lệch khỏi vị trí ban đầu hướng từ trước về sau. Mặt ngoài hông lốp trước tiên bên trái tại vị trí từ ký tự “ZANO” đến ký tự “zclnubben” có vết trượt làm sạch bụi sơ su, kích thước (0,45x0,12)m, có chiều ngược chiều kim đồng hồ. Mặt ngoài hông lốp trước tiên bên phải tại vị trí từ ký tự “TRAZANO” đến ký tự “AS668” có vết trượt làm sạch bụi sơ su, nằm trên diện (0,9x0,5m), có chiều ngược chiều kim đồng hồ. 1. Kỹ thuật an toàn phương tiện: Xe hư hỏng, không kiểm tra kỹ thuật. * Khám xe mô tô Biển kiểm soát 43C1-057.31. 1. Dấu vết trên phương tiện: Dấu vết trên phương tiện xe mô tô Biển kiểm soát 43C1-057.31:
- Mặt nạ ốp nhựa trước đầu xe bị di lệch rời khỏi vị trí ban đầu.
- Mặt ngoài ốp nhựa đoạn giữa bên phải mặt nạ xe có vết xước làm bong sơn hướng từ trái sang phải có dính lại chất màu xám, kích thước (10x4)cm; điểm cao nhất cách mặt đất 1,05m; điểm thấp nhất cách mặt đất 1,03m, ốp nhựa tương ứng phía trên dấu vết trên có vết nứt bể.
- Ốp gương bảo vệ đèn báo hướng rẽ bên phải trên mặt nạ xe bị bể vỡ.
- Mặt ngoài ốp kim loại bên dưới đèn báo hướng rẽ bên phải trên mặt nạ xe có vết xước làm khuyết kim loại hướng từ trái sang phải có dính lại chất màu xám, kích thước (8x1)cm, điểm cao nhất cách mặt đất 1,0m; điểm thấp nhất cách mặt đất 0,99m.
- Mặt ngoài ốp gương đèn báo hướng rẽ bên trái bị bể vỡ, kích thước (6x4)cm.
- Đoạn giữa mặt nạ trước xe có vết trượt làm bong sơn dính lại chất màu xám kích thước (12x10)cm, điểm giữa cách mặt đất 1m.
- Mặt ngoài đoạn giữa chắn gió bên trái có vét xước làm bong sơn, xơ nhựa hướng từ trước về sau nằm trên diện (45x15)cm.
- Mặt ngoài phía trước đầu tay cầm phanh bên trái có vết xước kim loại kích thước (3x1) cm.
- Mặt ngoài phía trước đầu tay cầm lái bên trái có vết xước kim loại kích thước (2x0,5)cm.
- Mặt ngoài bên trái cần chân đạp máy ở trạng thái đóng, có vết xước làm khuyết kim loại kích thước (7x5)cm hướng từ trước về sau.
- Hệ thống đèn, còi, phanh hoạt động bình thường. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn S thừa nhận hành vi phạm tội của mình, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê khởi tố, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê truy tố, Tòa án nhân dân quận Thanh Khê xét xử bị cáo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự là đúng tội, đúng pháp luật. Tại Bản Cáo trạng số: 26/CT-VKSTK ngày 21.01.2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Nguyễn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa trình bày luận tội và tranh luận: Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như trong quá trình điều tra và truy tố. Lời khai của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu và lời khai của người làm chứng, chứng kiến. Do đó, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê tại phiên tòa khẳng định Cáo trạng truy tố bị cáo Nguyễn S về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự, là có căn cứ, đúng với quy định của pháp luật. Căn cứ tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Đề nghị HĐXX áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260 và điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình xử phạt bị cáo Nguyễn S mức án từ 15 đến 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Về trách nhiện dân sự: Quá trình điều tra nguyên đơn dân sự và bị cáo Nguyễn S đã thương lượng thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại và nguyên đơn đơn sự và đương sự không có yêu cầu bồi thường gì thêm, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại phương tiện và giấy tờ cho chủ phương tiện là có căn cứ nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết. Đối với Giấy phép lái xe thu giữ của bị cáo Nguyễn S, đề nghị HĐXX tuyên trả lại cho bị cáo. Bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo thực sự ăn năn, hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong Hội đồng xét xử xem xét khoan hồng, giảm nhẹ hình phạt hưởng án treo để bị cáo lao động nuôi 03 con còn nhỏ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Xét về hành vi phạm tội của bị cáo: Vào khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 14.7.2019, Nguyễn S điều khiển xe ôtô tải đầu kéo biển kiểm soát 43C-186.36 kéo theo sơmi romóc Biển kiểm soát 43R-022.11 chạy trên đường Trường Chinh (hướng thuận chiều từ cầu vượt Cẩm Lệ về Cầu vượt Ngã ba Huế). Khi xe chạy đến đoạn đường trước số nhà 225 đường Trường Chinh, thuộc phường An Khê, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, do Nguyễn S ngủ gật, mất tay lái làm xe lao lên dải phân cách cố định bên trái (chia hai chiều đường xe chạy riêng biệt) tông vào cột điện chiếu sáng (số CS345ABTC) làm gãy đổ sang chiều đường đối diện trúng vào xe mô tô Biển kiểm soát 43C1-057.31 do anh Trần L điều khiển (chở theo vợ và 02 con, cháu Trần Thanh Ph ngồi phía trước, chị Nguyễn Thị Hồng O và cháu Trần Nguyễn Minh T ngồi sau) chạy trên đường Trường Chinh theo hướng ngược lại. Cháu Trần Thanh Ph bị cột điện ngã đè trúng người bị thương nặng và tử vong trên đường đi cấp cứu, anh L bị cột điện ngã trúng vào tay phải thương tích 19%. Hành vi trên của bị cáo Nguyễn S đã vi phạm các quy tắc giao thông đường bộ quy định tại khoản 5 Điều 4 Luật giao thông đường bộ và “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật hình sự. [3] Xét về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo nhận thức được việc điều khiển xe ôtô tải đầu kéo là nguồn nguy hiểm cao độ, do vậy khi tham gia giao thông phải tuân thủ đầy đủ các quy định của luật giao thông đường bộ, chỉ cần sơ suất nhỏ sẽ ảnh hưởng nghiên trọng đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác, nhưng do chủ quan, sơ suất và bất cẩn điều khiển xe trong trạng thái tinh thần không minh mẫn, buồn ngủ làm mất tay lái gây tai nạn, hậu quả làm một người tử vong và gây thiệt hại về tài sản là 25 triệu đồng. Xét hành vi trên của bị cáo Nguyễn S đã xâm phạm đến trật tự, an toàn trong hoạt động giao thông đường bộ, đồng thời xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe và tài sản của người khác. [4] Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ: Căn cứ vào trích lục tiền án, tiền sự của Phòng hồ sơ Công an thành phố Đà Nẵng thể hiện, bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa từng có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Sau khi phạm tội bị cáo đã thành khẩn khai báo và cùng với chủ xe (Công ty TNHH Xuất nhập khẩu và Vận tải H) khắc phục toàn bộ thiệt hại đã gây ra cho gia đình bị hại và đương sự trong vụ án, điều đó thể hiện sự ăn năn, hối cải của bị cáo và được gia đình bị hại bãi nại, không đề nghị xử lý hình sự đối với bị cáo. Do đó, khi lượng hình HĐXX xem xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được hưởng theo quy định tại Điều 50 và điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xét xử bị cáo mức án phù hợp. Xét bị cáo là người có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, có công việc ổn định, bị cáo là lao động chính trong gia đình và nuôi 03 con còn nhỏ. Xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách hiệm hình sự và không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật hình sự. Do đó, HĐXX căn cứ vào Điều 65 của Bộ luật hình sự và Nghị Quyết số:02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội để chấp hành hình phạt tù mà giao bị cáo về chính quyền địa phương để giám sát giáo dục cũng đủ tác dụng giáo dục đối với bị cáo và đồng thời thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. [4] Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa đại diện hợp pháp của bị hại và nguyên đơn dân sự vắng mặt, nhưng trong giai đoạn điều tra, bị cáo và chủ xe đã thương lượng, thỏa thuận bồi thường toàn bộ thiệt hại xảy ra cho gia đình bị hại là anh Trần L với số tiền 160.000.000đ và nguyên đơn dân sự Công ty Quản lý V số tiền là 24.000.000đ. Đại diện hợp pháp của người bị hại và nguyên đơn dân sự có đơn đề nghị không xử lý hình sự đối với bị cáo. Xét việc thỏa thuận về việc bồi thường thiệt hại trên là hợp pháp nên HĐXX không xem xét giải quyết. [5] Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại phương tiện và giấy tờ cho chủ phương tiện là có căn cứ nên HĐXX không xem xét giải quyết. Quá trình điều tra có thu giữ của bị cáo 01 Giấy phép lái xe hiện lưu giữ tại hồ sơ vụ án. HĐXX xét thấy cần tuyên trả lại cho bị cáo. [6] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn S phải chịu 200.000đ theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ quốc hội. [7] Lời phát biểu đề nghị áp dụng pháp luật và mức hình phạt của Kiểm sát viên đối với bị cáo Nguyễn S là có căn cứ pháp luật, Hội đồng xét xử chấp nhận. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn S phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. 1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 65 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn S 01 (một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (hai) năm, tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo Nguyễn S về Uỷ ban nhân dân phường Hòa Hiệp Bắc, quận Liên Chiểu, thành phố Đà Nẵng để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Nếu bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo phạm tội mới trong thời gian thử thách thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội phạm mới và tổng hợp hình phạt tù với bản án trước theo quy định tại Điều 55 và Điều 56 của Bộ luật hình sự. Bị cáo tiếp tục chấp hành Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến khi có Quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. 2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tuyên xử: Tuyên trả lại cho bị cáo Nguyễn S 01 Giấy phép lái xe. 3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số:326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về việc "Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí lệ phí Tòa án" của Uỷ ban thường vụ quốc hội. Tuyên xử: Buộc bị cáo Nguyễn S phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. 4. Án xử công khai, báo cho bị cáo và bị đơn dân sự biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng đại diện hợp pháp của người bị hại và bị đơn dân sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận hoặc niêm yết kết quả xét xử tại nơi cư trú./.
| Nơi nhận: - Trại tạm giam CATP. Đà Nẵng; - VKSND quận Thanh Khê; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hoàng Vũ |