vanban.org

Bản án 20/2020/HSST — Hình sự

TAND huyện Bù Đốp, tỉnh Bình Phước Tuyên án 07/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Vũ Viết L(M) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt Vũ Viết L(M) 02(hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 15/12/2019). Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường, bị hại không yêu cầu. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Vũ Viết L(M) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÙ ĐỐP
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2020/HSST
Ngày: 07/5/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐỐP - TỈNH BÌNH PHƯỚC

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: ông Nguyễn Quang Lâm

Các Hội thẩm nhân dân: ông Hồ Bá Toàn và bà Điểu Thị Hương

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Lý Văn Hơn

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đốp tham gia phiên toà: ông Nguyễn Thành Trung - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bù Đốp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 18/2020/HSST ngày 19 tháng 3 năm 2020; đối với bị cáo:

VŨ VIẾT L(tên gọi khác: M), sinh năm: 1996; Hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Phật; trình độ học vấn: 5/12; nghề nghiệp: Làm nông; con ông Vũ Viết H, sinh năm 1970 và bà Trần Thị H, sinh năm 1974; bị cáo chưa có vợ con; bị cáo có một người anh sinh năm 1994, bản thân bị cáo là con út trong gia đình; tiền án: không. Tiền sự: Ngày 07/3/2019, bị cáo bị Công an xã T, huyện B xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Bị cáo bị tạm giam từ ngày15/12/2019 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Đoàn Như P, sinh năm 1999; Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước(có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Lê Thị T, sinh năm 1945

Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước(có mặt).

- Những người làm chứng:

1. Nguyễn Văn V, sinh năm 2003

2. Lý Dung Q, sinh năm 1997

3. Nguyễn Văn L, sinh năm 1978

Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.

4. Nguyễn Hoàng L, sinh năm 1990

5. Võ Hoàng Đ, sinh năm 2002

6. Nguyễn Tấn P, sinh năm 1998

7. Lê Minh H, sinh năm 2000

Cùng địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.

8. Nguyễn Thế A, sinh năm 2001; địa chỉ: ấp T, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.

9. Nguyễn Văn T, sinh năm 1989; địa chỉ: thôn 6, xã T, huyện B, tỉnh Bình Phước.

(Tất cả vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 22 giờ 00 phút ngày 16/08/2019, Nguyễn Tuấn P tổ chức uống rượu cùng với Lý Dung Q, Nguyễn Văn L, Lê Minh H, Nguyễn Hoàng Lo, Nguyễn Thế A, Đoàn Như P tại nhà mình ở ấp T, xã T, huyện B. Trong lúc uống rượu, Q và Lo xảy ra mâu thuẫn, Lo bỏ đi đến nhà của Võ Hoàng Đ ở ấp T, xã T, tìm gặp Vũ Viết L để nói cho L biết vừa bị Q đòi đánh. Sau khi nghe Long nói, L rủ Nguyễn Văn V (đang cùng nhậu ở nhà Đạt) đi đến nhà của Nguyễn Tuấn P để tìm đánh Lý Dung Q. Khi đi L cầm theo một con dao mã tấu dài 73 cm, còn V cầm theo 01 cây sắt (dài khoảng 01 mét).

Khi đến nhà của Nguyễn Tuấn P, L dùng dao mã tấu chém về phía những người đang ngồi uống rượu tại nhà Nguyễn Tuấn P, trúng vào tay phải của Đoàn Như P gây thương tích. Sau đó L cùng V đuổi đánh Lý Dung Q, Q bỏ chạy. Một lúc sau Q quay lại nhà của Nguyễn Tuấn P thì bị L và V tiếp tục dọa đánh nên Q nhặt một con dao chém vào người của L nhưng được mọi người can ngăn và đưa Q, L và P đi đến trạm y tế chữa trị.

Tại bản kết luận giám định về thương tích số 327/2019/TgT ngày 01/11/2019 của Trung tâm pháp y tỉnh Bình Phước kết luận: Đoàn Như P bị vết thương cẳng bàn tay phải, đứt gân duỗi ngón I đã phẫu thuẫn khâu gân duỗi và gân dạng ngón I; Sẹo ở mu bàn tay phải kẽ ngón I, II hình “Y” kích thước (7 x 0,2) cm và (1 x 0,2) cm gọn, mềm, lõm, mất gấp duỗi ngón I bàn tay phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 12%.

Cáo trạng số: 20/CTr - VKS ngày 18/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Vũ Viết L về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố và kết luận.

Đại diện Viện kiểm sát, sau khi xem xét các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung bản cáo trạng; đề nghị HĐXX tuyên bố bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự và đề xuất mức hình phạt đối với bị cáo từ 24(hai mươi bốn) tháng đến 30(ba mươi) tháng tù.

Bị cáo không tham gia tranh luận, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị cáo Linh đã tác động gia đình bồi thường cho bị hại 20.000.000đ(hai mươi triệu đồng); bị hại không yêu cầu gì thêm đối với bị cáo và xin giảm nhẹ hình phạt đối với bị cáo Linh.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Căn cứ vào các chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện B, tỉnh Bình Phước, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện B, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và những người làm chứng. Hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng được thực hiện theo đúng quy định pháp luật.

Về nội dung vụ án: Ngày 16/8/2019, tại ấp T, xã T, huyện B, Vũ Viết L đã có hành vi dùng dao mã tấu (là một loại hung khí nguy hiểm) chém gây thương tích cho bị hại Đoàn Như P với tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên là 12% (mười hai phần trăm). Hành vi của bị cáo Vũ Viết L đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 như cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố là có căn cứ, đúng hành vi, đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, xâm hại đến quyền bảo vệ sức khỏe của công dân được Nhà nước và pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo hoàn toàn biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật, khi nghe tin bạn bị hù đánh mà bị cáo đã cố ý dùng hung khí (dao mã tấu) lập tức đến chém bị hại nên cần có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo phạm tội lần đầu, là lao động chính trong gia đình và đang nuôi con nhỏĐây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, HĐXX cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo và bị hại không có mâu thuẫn gì với nhau, chỉ nghe bạn bị hù đánh, không nói phải trái gì, bị cáo đã ngay lập tức dùng dao mã tấu(hung khí nguy hiểm) chém bị hại. Hành vi của bị cáo đã có tính chất côn đồ nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với bị cáo theo điểm đ khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự.

Đối với Nguyễn Văn V là người đi cùng với bị cáo Vũ Viết L. Tại nhà Nguyễn Tuấn P, V chỉ đứng ngoài và không giúp sức hay tham gia chém bị hại Đoàn Như P. Tuy nhiên, V có đuổi đánh Q nhưng không gây thương tích gì cho Q và Q cũng không có yêu cầu xử lý về hành vi của V nên không đề cập xử lý, Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Lý Dung Q có hành vi sử dụng một con dao chém lại bị cáo Vũ Viết L. Tuy nhiên, do thương tích nhẹ, bị cáo Linh từ chối giám định và không có yêu gì nên không đề cập xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với Nguyễn Hoàng Lo, sau khi kể cho bị cáo L biết việc bị người khác đe dọa đánh, Lo đi về nhà ngủ mà không biết việc bị cáo L chém bị hại Đoàn Như P nên không đề cập xử lý. Hội đồng xét xử không xem xét.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì thêm, Hội đồng xét xử không xem xét.

Xét, sự đề xuất của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B về mức hình phạt là phù hợp với nhận định của Hộ đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

Đối với 01(một) con dao tự chế (có lưỡi bằng kim loại màu đen, cán bằng gỗ) dài 73 cm là công cụ bị cáo L dùng để chém gây thương tích cho bị hại Đoàn Như P, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu, tiêu hủy.

Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội; bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo phải nộp 200.000đ(hai trăm nghìn đồng) theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Vũ Viết L(M) phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; các điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; điểm d khoản 1 Điều 52; điểm d khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015.

Xử phạt Vũ Viết L(M) 02(hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 15/12/2019).

2. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường, bị hại không yêu cầu.

3. Về vật chứng: Tịch thu, tiêu hủy 01(một) con dao tự chế (có lưỡi bằng kim loại màu đen, cán bằng gỗ) dài 73 cm. (Theo biên bản giao nhận vật chứng số 0007624 ngày 19/3/2019 giữa Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B).

4.Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ