- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Minh Cường " Tàng trữ trái phép chất ma túy" - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều củ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 249 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2020/HS-ST Ngày: 21-5-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ BÌNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Đức
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Minh Đức
2. Ông Phạm Mạnh Biện
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thi ̣ Kim Loan - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã B
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã B tham gia phiên tòa:
Bà Phan Thị Mai Hồng - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 5 năm 2020, Tòa án nhân dân thị xã B, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 22/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 4 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 5 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Minh C, sinh năm 1997, tại Bình Phước; Hộ khẩu thường trú: Tổ 6, khu phố T, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Phước ; nghề nghiệp: Phụ xe; trình độ văn hoá (học vấn) 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Minh H, sinh năm: 1978 và bà Đỗ Thị Ng, sinh năm: 1980; Tiền án, tiền sự: không. Ngày 09/11/2019 bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã B bắt quả tang về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đến ngày 06/01/2020 khởi tố và áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Người chứng kiến:
1. Nguyễn Hữu D, sinh năm 2000 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 4, khu phố A, phường L, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
2. Dương Quốc H, sinh năm 1979 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ 8, khu phố P, phường L, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
3. Trần Thị Kim V, sinh năm 1999 (Có mặt)
Địa chỉ: Tổ 11, khu phố A, phường L, thị xã B, tỉnh Bình Phước.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 09/11/2019, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an thị xã B phối hợp với Công an phường L tiến hành kiểm tra phòng VIP, nhà trọ Thanh Hải thuộc tổ 8, khu phố P, phường L, thị xã B phát hiện Nguyễn Minh C, Nguyễn Hữu D và 03 (ba) gói nylon hàn kín, kích thước (0,3 x 0,8)cm, bên trong chứa nhiều hạt tinh thể dạng rắn màu trắng cất giấu trong nón lưỡi trai màu đen của Cường để trên đầu tủ nhựa. Nguyễn Minh C thừa nhận gói nylon chứa ma túy đá của Cường mua về cất giữ để sử dụng thì bị phát hiện nên Cơ quan điều tra tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang và niêm phong vật chứng, thu giữ theo quy định.
Tại Kết luận số 241/2019/GĐ-MT ngày 26/11/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước, kết luận: “Tinh thể màu trắng có trong 03 (ba) gói nylon (ký hiệu M) được niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamin, có khối lượng là: 0,4109 gam (không phẩy bốn một không chín gam).
Cáo trạng số: 19/CT-VKS ngày 09/4/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã B truy tố Nguyễn Minh C về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên Quyết định truy tố như cáo trạng, căn cứ tính chất mức độ phạm tội đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự tuyên phạt bị cáo Nguyễn Minh Cường từ 12 đến 16 tháng tù.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên và bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Bính Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Bình Long, Kiểm sát viên, Tòa án nhân dân thị xã Bình Long, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng truy tố. Xét lời nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người chứng kiến trong vụ án về thời gian, địa điểm và quá trình thực hiện tội phạm, phù hợp với các tài liệu chứng cứ, vật chứng có trong hồ sơ vụ án đã thu thập được. Hội đồng xét xử đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 09/11/2019 tại phòng VIP, nhà trọ H thuộc tổ 8, khu phố P, phường L, thị xã B, tỉnh Bình Phước, Nguyễn Minh C đang cất giấu trong nón lưỡi trai màu đen để trên đầu tủ nhựa 03 (ba) gói nylon hàn kín có chứa tinh thể dạng rắn, màu trắng, bị phát hiện. Nguyễn Minh C thừa nhận là ma túy đá mua về cất giấu để sử dụng. Ma túy thu giữ giám định có khối lượng 0,4109 gam (không phẩy bốn một không chín gam), loại Methamphetamine. Đủ yếu tố cấu thành tội Tàng trữ trái phép chất ma túy quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là người đủ tuổi chi ̣u trách nhiê ̣m hinh sự, thực hiê ̣n lỗi cố ý trực tiếp , xâm phạm đến sự độc quyền quản lý
̀ của Nhà nước về chất ma túy, ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương, cần xử phạt tù có thời hạn để răn đe, giáo dục chung.
Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Khi quyết định hình phạt có xem xét nhân thân bị cáo chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo không có tinh tiết tăng
̀ nă ̣ng.
Đối với vật chứng của vụ án:
- 01(một) mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng 0,2607gam (không phẩy hai sáu không bảy gam) được niêm phong trong phong bì (có niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước) là chất ma túy cấm lưu hành, tịch thu tiêu hủy.
Về mă ̣t dân sự:
Không ai có yêu cầu bồi thường gì, Hội đồng xét xử không xem xét.
Những vấn đề liên quan:
Về nguồn gốc ma túy Nguyễn Minh C khai nhận mua của người tên Cu tại xã T, huyện Q, tỉnh Bình Phước. Hiện không xác định được nhân thân, lai lịch nên không có cơ sở xử lý.
Cơ quan điều tra đã xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Hữu D về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy là đúng quy định nên không xem xét.
Đối với Dương Quốc H là chủ nhà trọ H thuộc tổ 8, khu phố P, phường L, thị xã B, tỉnh Bình Phước nhưng không biết việc Nguyễn Minh C tàng trữ trái phép ma tuý trong nhà nên không xử lý.
Đối với Trần Thị Kim V là bạn gái Cường và là người trực tiếp thuê phòng trọ nhưng không biết việc Nguyễn Minh C tàng trữ trái phép ma tuý nên không xử lý.
Kiểm sát viên đề nghị hình phạt tù cho bị cáo Nguyễn Minh C là phù hợp, đúng quy định nên chấp nhận.
Về án phí: Bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Minh C phạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh C 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, tính từ ngày thi hành án.
Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Xử lý theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 0002631 ngày 09/4/2020 giữa Công an thị xã Bình Long và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Bình Long.
Tịch thu, tiêu hủy: 01(một) mẫu vật hoàn lại sau giám định có khối lượng 0,2607gam (không phẩy hai sáu không bảy gam) được niêm phong trong phong bì (có niêm phong của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bình Phước) là chất ma túy cấm lưu hành
Án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- TAND tỉnh Bình Phước;
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND TX. Bình Long;
- CQCSĐT CA TX. Bình Long;
- Chi cục THA TX Bình Long;
- Phòng PV27 – CA tỉnh Bình Phước;
- Bị cáo;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thành Đức THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Minh Đức
Phạm Mạnh Biện
Nguyễn Thành Đức
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Phước; - VKSND TX. Bình Long; - CQCSĐT CA TX. Bình Long; - Chi cục THA TX Bình Long; - Phòng PV27 – CA tỉnh Bình Phước; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Minh Đứ c Vũ Thị Dung | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Đức THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thành Đức |