vanban.org

Bản án 20/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Quận 8, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 05/03/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Châu Văn T 02 (hai) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù t nh từ ngày 03/10/2019.

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong ghi số 1867/19/Q8 bên ngoài có chữ ký ghi tên Châu Văn T và hình dấu Công an Phường 4 Qu n 8 các chữ ký ghi tên giám định viên Nguyễn Thanh Đ cán bộ điều tra Nguyễn Huy L; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Chau Van T - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Châu Văn T 02 (hai) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù t nh từ ngày 03/10/2019.
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2020/HS-ST
Ngày 05 - 3 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 8, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Phạm Ngọc Xuân Ninh

Bà Hồ Thị Xuân Lan

- Thư ký phiên tòa: Ông Dương Quốc Thái – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 8, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Mai Ngọc Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 05 tháng 3 năm 2020 tại tr s Tòa án nhân dân Qu n 8 Thành phố Hồ Ch Minh xét xử sơ thẩm công khai v án hình sự th lý số: 02/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2020 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 18/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Châu Văn T: sinh ngày 21 tháng 01 năm 1981 tại Thành phố Hồ Ch Minh; nơi cư trú (nơi đăng ký thường trú: 215 ADL Phường 2 Qu n 8 Thành phố Hồ Ch Minh; chỗ : 35/35/23/5 CL, Phường 4 Qu n 8 Thành phố Hồ Ch Minh); nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Châu Văn T và bà Lê Thị Đ; có vợ chưa có con; tiền án: Không;

Tiền sự: Ngày 01/9/2016, Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Ch Minh ra quyết định áp d ng biện pháp xử lý hành ch nh đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc thời hạn 18 tháng. Ngày 01/11/2018, chấp hành xong quyết định.

- Nhân thân: Ngày 22/11/1997, Tòa án nhân dân Qu n 8, Thành phố Hồ Ch Minh xử phạt 03 tháng tù nhưng cho hư ng án treo về tội “Gây rối tr t tự công cộng” thời gian thử thách là 12 tháng (đã nộp án ph hình sự sơ thẩm ngày 27/8/2009).

Bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 03/10/2019 đến nay (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ v án và diễn biến tại phiên tòa nội dung v án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 01 giờ 20 phút, ngày 03/10/2019 tại trước số 13 V Phường 4 Qu n 8 Thành phố Hồ Ch Minh, Tổ tuần tra Công an Phường 4, Qu n 8, Thành phố Hồ Ch Minh phát hiện Châu Văn T đang điều khiển xe gắn máy Honda Vision biển số 50N1-163.64 do nghi vấn T có liên quan đến ma túy nên yêu cầu dừng xe kiểm tra. Qua kiểm tra, Công an phát hiện trong cốp xe của T có 01 bóp da, bên trong bóp da có 01 gói nylon chứa 06 viên nén hình tròn màu đỏ và 01 gói nylon chứa chất bột màu trắng (T khai nh n đây là ma túy của T dùng để sử d ng). Ngoài ra, Công an còn tạm giữ của T 01 điện thoại di động hiệu Samsung màu đen gắn sim số 0933447800; 01 điện thoại di động Samsung màu xanh bạc gắn sim 0898403340; số tiền 5.000.000 đồng và 01 xe gắn máy Honda Vision biển số 50N1-163.64. V việc được đưa về tr s Công an Phường 4, Qu n 8, Thành phố Hồ Ch Minh l p biên bản bắt người phạm tội quả tang và chuyển giao đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Qu n 8 để điều tra, làm rõ.

Tại bản Kết lu n giám định số 1867/KLGĐ-H ngày 10/10/2019 của Phòng kỹ thu t hình sự Công an Thành phố Hồ Ch Minh kết lu n: 01 gói niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Châu Văn T và hình dấu Công an Phường 4 Qu n 8, bên trong có:

- 06 viên nén màu đỏ trong 01 gói nylon là ma túy thể rắn có khối lượng 0,6211g (không phẩy sáu hai một một gam) loại Methamphetamine.

- Bột màu trắng trong 01 gói nylon là ma túy thể rắn có khối lượng 0 3206g (không phẩy ba hai không sáu gam) loại Ketamine.

Quá trình điều tra, bị cáo Châu Văn T khai nh n: Do nghiện ma túy khoảng 20 giờ ngày 30/9/2019, T đang uống cà phê tại khu vực đường N - T, Qu n 1, Thành phố Hồ Ch Minh thì T thấy có một người đàn ông tên D (không rõ lai lịch) bán ma túy nên T gặp và hỏi mua ma túy của D thì D đồng ý bán. Sau đó D đi đâu không rõ một lúc sau quay lại bán cho T 02 gói ma túy tổng hợp (01 gói Ketamine giá 500.000 đồng và 01 gói chứa 06 viên ma túy Methamphetamine giá 600.000 đồng). Sau khi mua được ma túy, T sử d ng một t ma túy loại Ketamine khách sạn (không rõ địa chỉ) sau đó T bỏ số ma túy còn lại vào bóp da của mình và bỏ bóp da vào cốp xe gắn máy Honda Vision biển số 50N1-163.64 cất giữ để tiếp t c sử d ng. Vào lúc 01 giờ 20 phút, ngày 03/10/2019, khi T đang điều khiển xe gắn biển số 50N1-163.64 đi đến trước số 13 V Phường 4 Qu n 8 thì bị Công an kiểm tra, phát hiện bắt quả tang như đã nêu trên.

V t chứng thu giữ:

- 01 (một) gói niêm phong ghi số 1867/19/Q8 bên ngoài có chữ ký ghi tên Châu Văn T và hình dấu Công an Phường 4, Qu n 8 các chữ ký ghi tên giám định viên Nguyễn Thanh Đ, cán bộ điều tra Nguyễn Huy L;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen có số IMEI 1: 357931/09/018058/4, IMEI 2: 357932/09/018058/2;

- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh bạc có số IMEI 1: 356261105118846 số IMEI 2: 356262105118844;

- 01 biển số xe 50N1-163.64;

- Số tiền 5.000.000 đồng;

- 01 bóp da màu đen.

Tại bản Cáo trạng số 13/CT-VKS ngày 09/01/2020, Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8, Thành phố Hồ Ch Minh truy tố bị cáo Châu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa

Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Thành phố Hồ Ch Minh giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Châu Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Sau khi phân t ch đánh giá t nh chất mức độ của hành vi phạm tội Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp d ng điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù; không áp d ng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền đối với bị cáo. Về v t chứng thu giữ đề nghị xử lý theo quy định pháp lu t.

Bị cáo không có ý kiến tranh lu n; bị cáo thừa nh n hành vi phạm tội ăn năn hối cãi và xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ v án đã được tranh t ng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nh n định như sau:

Về hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan điều tra Công an Qu n 8 Điều tra viên Viện kiểm sát nhân dân Qu n 8 Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự thủ t c quy định của Bộ lu t tố t ng hình sự. Quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa hôm nay bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng. Do đó các hành vi quyết định tố t ng của Cơ quan tiến hành tố t ng người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nh n hành vi phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra phù hợp với lời khai người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ v án xác định vào khoảng 01 giờ 20 phút, ngày 03/10/2019 tại trước số 13 V Phường 4 Qu n 8, Thành phố Hồ Ch Minh bị cáo Châu Văn T có hành vi cất giữ trái phép ma túy thể rắn, có khối lượng 0,6211 gam loại Methamphetamine và 0,3206 gam loại Ketamine m c đ ch sử d ng thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Điều 249 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” như sau:

“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

...

c) Heroine, Cocaine, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam;

...

g) Các chất ma túy khác ở thể rắn có khối lượng từ 01 gam đến dưới 20 gam;

...

i) Có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng hoặc thể tích của các chất đó tương đương với khối lượng hoặc thể tích chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm b đến điểm h khoản này;

...”

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện hành vi với lỗi cố ý đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về các chất ma túy và an toàn xã hội. Như v y Hội đồng xét xử có căn cứ xác định hành vi của bị cáo Châu Văn T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 249 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội xét t nh nghiêm trọng của tội phạm mà bị cáo đã thực hiện cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định bằng hình phạt tù có thời hạn nhằm cải tạo giáo d c bị cáo tr thành người có ch có ý thức tuân theo pháp lu t và các quy tắc của cuộc sống ngăn ngừa phạm tội mới; đồng thời phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm trong xã hội.

Ngày 01/9/2016, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Ch Minh ra quyết định áp d ng biện pháp xử lý hành ch nh đưa vào cơ s cai nghiện bắt buộc; năm 1997 bị cáo bị Tòa án nhân dân Qu n 8 Thành phố Hồ Ch Minh kết án 03 tháng tù về tội “Gây rối tr t tự công công” nhưng cho hư ng án treo. Mặc dù không xem là án t ch nhưng khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng xem xét để có mức hình phạt phù hợp với nhân thân của bị cáo.

Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” là có cơ s đúng người đúng tội. Mức hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị áp d ng đối với bị cáo là phù hợp tương xứng với t nh chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội nên có căn cứ chấp nh n. Tuy nhiên, quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo ăn năn hối cãi nên Hội đồng xét xử áp d ng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) để giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 249 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng…”. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do thu nh p không ổn định điều kiện kinh tế còn khó khăn hành vi không nhằm m c đ ch thu lợi nên Hội đồng xét xử không áp d ng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về v t chứng trong v án quá trình điều tra thu giữ số ma túy trong gói niêm phong số 1867/19/Q8 là v t cấm tàng trữ lưu hành và 01 bóp da màu đen bị cáo dùng để cất giấu ma túy nên căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự tịch thu tiêu hủy.

- 02 điện thoại di động hiệu Samsung và số tiền 5.000.000 đồng tạm giữ của bị cáo xét không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự trả lại cho bị cáo.

- 01 xe gắn máy hiệu Honda Vision gắn biển số 50N1-163.64 bị cáo khai xe là của một người (không rõ lai lịch) cầm cố cho bị cáo với giá 5.000.000 đồng nhưng chưa chuộc lại. Qua giám định xe có số khung RLHJF5832KY492050 số máy JF86E-0192016, qua xác minh xe có biển số th t là 67L2-277.46 do chị Lê Thị Tuyết Nh đứng tên đăng ký chị Nh khai xe trên chị Nh bị mất trộm tại huyện Nhà Bè Thành phố Hồ Ch Minh và có đến Công an xã Phước Kiển huyện Nhà Bè trình báo. Quá trình điều tra Cơ quan điều tra đã ra quyết định chuyển v t chứng là chiếc xe nói trên đến Công an huyện Nhà Bè, Thành phố Hồ Ch Minh để xử lý theo thẩm quyền nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý.

Đối với biển số xe 50N1-163.64, qua điều tra xác định do ông Nguyễn Văn G đứng tên đăng ký hiện ông G không có mặt tại nơi cư trú đi đâu không rõ. Xét không có giá trị sử d ng nên căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự tịch thu tiêu hủy.

Đối với người đàn ông tên D bán ma túy cho bị cáo do không xác định được lai lịch quá trình điều tra không đưa vào tham gia tố t ng nên Hội đồng xét xử không xem xét trong v án này.

Về án ph hình sự: Căn cứ quy định tại Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội, bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm i khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Xử phạt bị cáo Châu Văn T 02 (hai) năm tù, về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn tù t nh từ ngày 03/10/2019.

- Căn cứ vào Điều 47 của Bộ lu t Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017); các điểm a, c khoản 2 điểm b khoản 3 Điều 106 của Bộ lu t Tố t ng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy:

+ 01 (một) gói niêm phong ghi số 1867/19/Q8 bên ngoài có chữ ký ghi tên Châu Văn T và hình dấu Công an Phường 4 Qu n 8 các chữ ký ghi tên giám định viên Nguyễn Thanh Đ cán bộ điều tra Nguyễn Huy L;

+ 01 bóp da màu đen;

+ 01 biển số xe 50N1-163.64.

Trả lại bị cáo:

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu đen có số IMEI 1: 357931/09/018058/4, IMEI 2: 357932/09/018058/2;

+ 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh bạc có số IMEI 1: 356261105118846 số IMEI 2: 356262105118844;

+ Số tiền 5.000.000 đồng.

(Tất cả theo Phiếu nh p kho v t chứng số 315/PNK ngày 13/12/2019 và Giấy nộp tiền vào tài khoản l p ngày 13/12/2019).

- Căn cứ vào các điều 135 136 của Bộ lu t Tố t ng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường v Quốc hội.

Buộc bị cáo Châu Văn T nộp 200.000 đồng án ph hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ