- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình S phạm tội "Đánh bạc" - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo:
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 321 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN H. QUẾ VÕ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Tỉnh Bắc Ninh ____________ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2020/HS-ST Ngày: 16/3/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
- Hội đồng xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thứ – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa: Bà
Đặng Thị Kim Phụng - Kiểm sát viên.
Ngày 16 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quế Võ, tỉnh
Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục rút gọn vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 24/2020/TLST-HS ngày 04 tháng 3 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 21/2020/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Đình S, sinh năm 1976;
HKTT: thôn Hiền Lương, xã Phù Lương, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính:
Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Đình S1 (Đã chết) và bà Trần Thị N, sinh năm 1953; bị cáo là con duy nhất; vợ là Phạm Thị L, sinh năm 1978 và có 03 con, con lớn nhất sinh năm 1996, con nhỏ sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ từ ngày 05/02/2020 đến ngày 08/02/2020 áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Phạm Văn T, sinh năm 1987 – vắng mặt;
2. Anh Phạm Văn Kh, sinh năm 1973 – vắng mặt; Cùng địa chỉ: thôn Hiền Lương, xã Phù Lương, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17h30’ ngày 05/02/2020, Nguyễn Đình S ngồi tại quán tạp hóa của
gia đình thì có Phạm Văn Tuyển đến gặp S để mua số lô, số đề. Tuyển bảo S ghi cho các số lô gồm 02, 20, 05, 50 mỗi con số 50 điểm và các số đề 33,44 mỗi con 100.000 đồng, số đề 55 là 150.000 đồng. Tổng số tiền Tuyển mua số lô, số đề của S là 4.950.000 đồng. Tuyển dùng điện thoại Masstel của Tuyển nhắn tin các con số lô, số đề vừa mua của S vào điện thoại của S, S nhắn tin lại “ok” (nghĩa là đồng ý). Tuyển đưa tiền cho S. S cầm tiền và ghi các con số lô, số đề Tuyển vừa mua vào tờ giấy A4 (cáp tổng). Ngay sau đó, Phạm Văn Kháng bảo S ghi cho các con số đề gồm: 19 – 20.000 đồng, 94 – 30.000 đồng, 44 – 50.000 đồng, đầu 4 (gồm các con số: 40, 41, 42, 43, 44, 45, 46, 47, 48, 49) và đít 4 (gồm các con số 04, 14, 24, 34, 44, 54, 64, 74, 84, 94) mỗi con 10.000 đồng. Tổng số tiền Kháng mua số đề của S là 300.000 đồng. Kháng đưa tiền cho S. S cầm tiền và ghi các con số Kháng mua vào tờ cáp tổng và ghi vào mặt sau của tờ lịch (cáp lô đề) các con số Kháng mua và đưa cáp lô đề cho Kháng. Đúng lúc này thì lực lượng Công an vào bắt quả tang thu giữ toàn bộ vật chứng bao gồm: 01 tờ giấy A4 (cáp tổng) bên trong có ghi các con số lô, số đề có chữ ký của S; 01 tờ lịch nhỏ, mặt sau của tờ lịch có ghi các con số đề có chữ ký của S và Kháng; 01 bàn nhựa màu xanh đã qua sử dụng; 01 ghế nhựa màu đỏ đã qua sử dụng; 01 bút bi màu xanh đã qua sử dụng; 01 bút bi màu đỏ đã qua sử dụng; 01 điện thoại Samsung J7 Prime màu xanh tím đã qua sử dụng; 01 điện thoại Masstel màu trắng xanh đã qua sử dụng; số tiền 5.250.000 đồng tiền ngân hàng Nhà nước Việt Nam.
Tại cơ quan điều tra Công an huyện Quế Võ, S khai nhận: Lợi dụng kết quả
xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày, S đã đánh bạc bằng hình thức bán số lô, số đề cho khách theo kết quả xổ số. Cách thức đánh bạc dưới hình thức mua, bán số lô, số đề lấy kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng hàng ngày làm căn cứ so sánh được thua như sau: Khách mua số “lô” thì so sánh hai số cuối của tất cả các giải thưởng, nếu trùng với số của người chơi thì S phải trả cho người chơi số tiền là 01 điểm = 80.000 đồng (mỗi 01 điểm người chơi phải trả số tiền 23.000 đồng). Nếu mua số “đề” thì lấy hai số cuối của giải đặc biệt, nếu trùng với số của người chơi đã mua thì S phải trả cho người chơi số tiền gấp 80 lần số tiền người chơi đã mua số “đề”. Trường hợp kết quả không trùng với những số người chơi đã mua của S thì người chơi sẽ mất số tiền đó. S thừa nhận khoảng 17 giờ 30 phút ngày 05/02/2020, S đã có hành vi đánh bạc bằng hình thức số lô, đề với Tuyển và Kháng với số tiền là 5.250.000đ, nếu Tuyển và Kháng trúng thì S tự bỏ tiền ra trả, không chuyển cáp cho ai.
Với nội dung trên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ nhận thấy hành vi
phạm tội của bị cáo đủ điều kiện áp dụng thủ tục rút gọn nên ngày 02/3/2020 đã ra Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 19/QĐ-VKSQV để truy tố bị cáo Nguyễn Đình S về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Đình S đã khai nhận toàn bộ hành vi
phạm tội của mình đúng như nội dung Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ đã truy tố và thừa nhận Quyết định truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” là đúng người, đúng tội.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ thực
hành quyền công tố tại phiên toà vẫn giữ nguyên Quyết định truy tố và trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, cũng như qua xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình S phạm tội “Đánh bạc”.
Đề nghị áp dụng khoản 1,3 Điều 321; điểm i, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 65
BLHS xử phạt: Nguyễn Đình S từ 06 – 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm 16/3/2020. Phạt bị cáo từ 10.000.000đ – 13.000.000đ.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS: Tịch thu
tiêu hủy 01 bàn nhựa màu xanh, 01 ghế nhựa màu đỏ, 01 bút bi màu xanh, 01 bút bi màu đỏ, tất cả đã qua sử dụng.
Tịch thu sung công quỹ Nhà nước 5.250.000 đồng tiền ngân hàng Nhà nước
Việt Nam, 01 điện thoại Samsung J7 Prime màu xanh tím thu của S và 01 điện thoại Masstel màu trắng xanh thu của Tuyển đều đã qua sử dụng, là số tiền và công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội.
Đối với 01 tờ giấy A4 (cáp tổng) bên trong có ghi các con số lô, số đề có chữ
ký của S; 01 tờ lịch nhỏ, mặt sau của tờ lịch có ghi các con số đề có chữ ký của S và Kháng là tài liệu, chứng cứ của vụ án nên cần lưu trữ trong hồ sơ vụ án.
Bị cáo Nguyễn Đình S nhận tội, không có ý kiến gì và không tham gia tranh
luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa xem xét giảm nhẹ hình phạt và xin được xử phạt hình phạt chính là hình phạt tiền.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa nhận định như sau:
Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Đình S tại cơ quan điều tra và tại phiên
toà ngày hôm nay phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, phù hợp với thời gian, địa điểm, vật chứng thu được tại hiện trường, lời khai của những người làm chứng và các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng từ 17h30’ đến 17h45’ ngày 05/02/2020, các đối tượng Phạm Văn Tuyển và Phạm Văn Kháng đã có hành vi đánh bạc dưới hình thức ghi số “Lô, đề” ăn tiền với Nguyễn Đình S tại quán tạp hóa của gia đình S ở thôn Hiền Lương, xã Phù Lương, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh với tổng số tiền là 5.250.000đ. Trong vụ án này các đối tượng đều thống nhất lấy kết quả xổ số miền Bắc mở thưởng vào khoảng từ 18 giờ 15 phút đến 18 giờ 30 phút ngày 05/02/2020 làm căn cứ đối chiếu thắng thua cho việc đánh bạc. Thời điểm lực lượng công an bắt quả tang, chưa mở thưởng kết quả xổ số miền Bắc nên xác định số tiền bị cáo dùng đánh bạc là 5.250.000đ (theo tiết b, điểm 5.2 khoản 5 Điều 1 Nghị quyết số 01/2010/NQ - HĐTP ngày 22/10/2010 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Điều 248 và Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 1999). Nên có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Đình S phạm tội "Đánh bạc” được quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS đúng như Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn của VKSND huyện Quế Võ.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm tới an ninh
trật tự công cộng được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi đánh bạc trái phép ghi số lô, số đề là vi phạm pháp luật, song vì hám lợi bị cáo vẫn cố tình thực hiện hành vi phạm tội, tuy số tiền bị cáo dùng vào việc đánh bạc không lớn nhưng lại lôi kéo nhiều người tham gia, gây mất trật tự trị an ở địa phương, gây bất bình trong quần chúng nhân dân. Hành vi phạm tội của bị cáo chẳng những làm gia tăng tệ nạn cờ bạc trong cộng đồng dân cư, mà còn ảnh hưởng xấu đến cuộc sống bình thường của nhiều gia đình khi có con em, người thân đam mê cờ bạc và là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác. Xét thấy cần phải xử lý nghiêm bị cáo bằng luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối
với bị cáo thì thấy: Bị cáo xuất thân từ gia đình con em lao động, chưa có tiền án tiền sự, có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; tại cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải. Quá trình truy tố bị cáo đã tự nguyện nộp tiền phạt trước khi xét xử nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Qua xem xét tính chất, mức độ phạm tội cũng như nhân thân của bị cáo Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa nhận thấy cho bị cáo được cải tạo tại địa phương cũng đủ để giáo dục bị cáo trở thành người công dân tốt có ích cho xã hội.
Ngoài hình phạt chính cần phạt bị cáo một khoản tiền sung công quỹ Nhà
nước.
Về vật chứng của vụ án: Đối với số tiền 5.250.000đ và 01 điện thoại Samsung
J7 Prime màu xanh tím và 01 điện thoại Masstel màu trắng xanh đều đã qua sử dụng là số tiền và công cụ dùng vào việc phạm tội nên phải tịch thu xung công quỹ nhà nước.
Đối với 01 bàn nhựa màu xanh; 01 ghế nhựa màu đỏ; 01 bút bi màu xanh; 01
bút bi màu đỏ đây là công cụ dùng vào việc phạm tội, giá trị nhỏ và đã qua sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
Đối với 01 tờ giấy A4 (cáp tổng) bên trong có ghi các con số lô, số đề có chữ
ký của S; 01 tờ lịch nhỏ, mặt sau của tờ lịch có ghi các con số đề có chữ ký của S và Kháng đây là tài liệu, chứng cứ của vụ án nên cần được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
Đối với số tiền 25.200.000đ bị cáo nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện
Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh. Xét thấy số tiền này không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo cần trả lại cho bị cáo nhưng tạm giữ để bảo đảm thi hành án.
Đối với Phạm Văn Tuyển và Phạm Văn Kháng có hành vi đánh bạc dưới hình
thức ghi số lô số đề ăn tiền với Nguyễn Đình S. Do số tiền của Tuyển và Kháng dùng vào việc đánh bạc chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “Đánh bạc” nên Công an huyện Quế Võ đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Tuyển và Kháng là thỏa đáng. Trong quá trình điều tra Tuyển và Kháng không có ý kiến gì về số tiền dùng vào việc đánh bạc. Tuyển thừa nhận có dùng điện thoại của mình để nhắn tin ghi số lô, số đề với S nên không có ý kiến gì đối với chiếc điện thoại Masstel màu trắng xanh của mình.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Đình S phạm tội “Đánh bạc”.
Áp dụng khoản 1,3 Điều 321, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 65
BLHS; Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, xử phạt bị cáo:
Nguyễn Đình S 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là
12 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Phạt bổ sung bị cáo số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng).
Giao bị cáo cho UBND xã Phù Lương, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh giám
sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Bị cáo phải thực hiện các nghĩa vụ trong thời gian thử thách theo quy định của
Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.
Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS:
- Đối với 01 tờ giấy A4 (cáp tổng) bên trong có ghi các con số lô, số đề có chữ
ký của S và 01 tờ lịch nhỏ, mặt sau của tờ lịch có ghi các con số đề có chữ ký của S và Kháng cần được lưu giữ trong hồ sơ vụ án.
- Tịch thu tiêu hủy 01 bàn nhựa màu xanh; 01 ghế nhựa màu đỏ; 01 bút bi màu
xanh; 01 bút bi màu đỏ, tất cả đều đã qua sử dụng.
- Tịch thu sung công quỹ Nhà nước số tiền 5.250.000đ, 01 điện thoại Samsung
J7 Prime màu xanh tím và 01 điện thoại Masstel màu trắng xanh đều đã qua sử dụng.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 03/3/2020 giữa Công an huyện Quế
Võ và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quế Võ).
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm. Tổng số tiền
phạt và án phí HSST bị cáo phải chịu là 10.200.000đ. Xác nhận S đã tự nguyện nộp số tiền 25.200.000đ tiền phạt và án phí tại Biên lai thu tiền số 0005862 ngày 03/3/2020 của Chi cục THADS huyện Quế Võ. Hoàn trả lại bị cáo số tiền 15.000.000đ.
Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ
thẩm. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ
- Toà án ND tỉnh Bắc Ninh;
- VKS, CA,THADS huyện Quế Võ;
- VKS, Sở Tư pháp tỉnh Bắc Ninh;
- UBND xã Phù Lương;
- Những người tham gia tố tụng;
Phạm Thị Hoài Phương
- Lưu hồ sơ, văn phòng. TÒA ÁN NHÂN DÂN H. QUẾ VÕ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Tỉnh Bắc Ninh
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Số: 138/2019/QĐXXST-HS
Quế Võ, ngày 24 tháng 10 năm 2019
QUYẾT ĐỊNH
ĐƯA VỤ ÁN RA XÉT XỬ SƠ THẨM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẾ VÕ, TỈNH BẮC NINH
Căn cứ vào các điều 45, 255 và 462 của Bộ luật Tố tụng hình sự;
Sau khi nghiên cứu hồ sơ vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 139/2019/HSST
ngày16 tháng 10 năm 2019;
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Đưa ra xét xử sơ thẩm vụ án hình sự đối với bị cáo:
Nguyễn Đình S, sinh năm 1982;
HKTT: Thôn Giang Liễu, xã Phương Liễu, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ truy tố về tội: Đánh bạc
Theo khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự.
Thời gian mở phiên tòa: 07 giờ 30 phút, ngày 31 tháng 10 năm 2019.
Địa điểm mở phiên tòa: Hội trường xét xử tầng 2, trụ sở Tòa án nhân dân
huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Địa chỉ: Thị trấn Phố Mới, huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
Vụ án được xét xử theo thủ tục rút gọn.
Điều 2.
I. Những người tiến hành tố tụng:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Thị Hoài Phương
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Huy
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quế Võ tham gia phiên tòa:
- Bà Nguyễn Thị Kim Liên - Kiểm sát viên.
- Bà Đặng Thị Kim Phụng - Kiểm sát viên dự khuyết.
II. Những người tham gia tố tụng:
- Bị cáo Nguyễn Đình S.
III. Vật chứng cần đưa ra xem xét tại phiên tòa: Không
| Nơi nhận: - VKSND huyện Quế Võ; - Bị cáo; - Lưu HS | THẨM PHÁN Phạm Thị Hoài Phương |