- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vàng A X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của…"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG TỈNH ĐẮK LẮK | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 20/2020/HS - ST Ngày: 07/5/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Bà Đoàn Thị Thu Trang.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Đình Long.
2. Bà Hoàng Thị Phương.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mậu Tuân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, tỉnh Đắk Lắk.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng tham gia phiên tòa: Ông Y Muôn Niê - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Năng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 17/2020/HSST ngày 26/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2020/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:
Họ và tên: Vàng A X; Tên gọi khác: Không; sinh năm: 1968; Tại tỉnh Y; Nơi cư trú: Thôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đ; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ văn hóa: 0/12; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam: Con ông: Vàng Xái C, sinh năm 1944 (đã chết); Con bà: Thào Thị S, sinh năm 1950 (chết); Vợ: Giàng Thị T, sinh năm 1969; Có 05 con; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 09/01/2020 đến nay. (Có mặt).
Người bào chữa cho bị cáo: Ông Hoàng Văn C - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh Đ.
Địa chỉ: 39 Lý Thường K, TP. B, tỉnh Đ. (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vàng A X là đối tượng nghiện ma túy, sinh sống tại thôn G, xã E, huyện K, tỉnh Đ. Khoảng 11 giờ ngày 09/01/2020 Vàng A X đi bộ từ nhà ra ngoài đường cách khoảng 100 mét, mục đích để đi mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực giếng nước nhà ông Vàng A L ở cùng thôn thì gặp một người đàn ông không rỏ nhân thân lai lịch, X hỏi mua ma túy thì được người này đồng ý nên X đưa cho người này số tiền 300.000 đồng, người này đưa cho X 02 gói ma túy, X cất một gói ma túy vào túi quần bên trái, gói còn lại cầm trên tay rồi đi về nhà. Trên đường đi về nhà thì bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K bắt quả tang, thu giữ trong túi quần bên trái của X một gói ni lông chứa chất rắn màu trắng và thu giữ trên tay phải của X một gói ni lông chứa chất rắn màu trắng, X khai nhận là ma túy, tàng trữ để sử dụng.
Vật chứng vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện K thu giữ gồm: hai gói ni lông chứa chất rắn màu trắng.
Tại bản kết luận giám định số: 27/GĐMT/PC09 ngày 15/01/2020 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đ Kết luận: Chất rắn màu trắng đựng trong một gói ni lông được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,3364 gam, loại Hêrôin. Chất rắn màu trắng đựng trong một gói ni lông được niêm phong gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0963 gam, loại Hêrôin.
Tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Cáo trạng số 25/CT-VKS ngày 23/3/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Năng truy tố bị cáo Vàng A X tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS, tuyên phạt bị cáo từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ 0,3710 gam Hêrôin hoàn lại sau giám định.
Người bào chữa cho bị cáo Vàng A X đề nghị HĐXX xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất vì xét bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ, sống ở vùng sâu, nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự và thành thật khai báo, ăn năn hối cải.
Bị cáo không tranh luận gì mà chỉ xin HĐXX xem xét cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để sớm tái hòa nhập cộng đồng, phục vụ gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện K, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Về nội dung vụ án, theo tài liệu thu thập được, lời khai của bị cáo, người tham gia tố tụng khác, đã đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 09/01/2020, tại khu vực thôn G, xã E, huyện K, Vàng A X có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy có trọng lượng 0,4327 gam, loại ma túy là hêrôin.
Hành vi của bị cáo Vàng A X đã phạm vào tội: Tàng trữ trái phép chất ma túy, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015.
Điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS qui định:
“1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:
a/……………………………………………………………………………
c/ Heroine,Cocaine,Methamphetamine, Amphetamine,MDMA hoặc XLR-11có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam”.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý độc quyền của nhà nước về chất ma túy, xâm phạm đến trật tự trị an trong xã hội. Bị cáo nhận thức được hêrôin là chất ma túy gây nghiện làm hủy hoại đến sức khỏe của con người, là nguyên nhân dẫn đến các tệ nạn xã hội, tội phạm về hình sự. Song do ý thức coi thường pháp luật, muốn thỏa mãn cơn nghiện nên vào ngày 09/01/2020, bị cáo đã tàng trữ trái phép 0,4723 gam Hêrôin. Vì vậy cần phải có hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định. Có như vậy mới đủ tác dụng giáo dục riêng và răn đe phòng ngừa chung trong toàn xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét bị cáo phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo thể hiện thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Bị cáo là người dân tộc thiểu số, không biết chữ và sống ở vùng sâu nên khả năng nhận thức pháp luật còn hạn chế. Vì vậy bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS.
Đối với quan điểm của VKS nhân dân huyện K về tội danh, về mức hình phạt là phù hợp nên cần chấp nhận.
Đối với quan điểm của người bào chữa cho bị cáo Vàng A X về tội danh là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: cần tịch thu tiêu huỷ 0,3710 gam Hêrôin hoàn lại sau giám định.
Đối với hành vi bán trái phép chất ma túy của đối tượng bán ma túy cho Xà, hiện nay Cơ quan điều tra chưa xác định được nhân thân lai lịch của đối tượng này nên tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.
Về án phí: Bị cáo được miễn nộp án phí do bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vàng A X phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS: Xử phạt bị cáo Vàng A X 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam ngày 09/01/2020.
3. Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 0,3710 gam Hêrôin hoàn lại sau giám định.
(Đặc điểm, số lượng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/3/2020 giữa cơ quan CSĐT công an huyện Krông Năng và Chi cục thi hành án dân sự huyện Krông Năng)
4. Về án phí: Áp dụng Điều 135 của Bộ luật tố tụng hình sự 2015; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Vàng A X được miễn nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Đắk Lắk; - TAND tỉnh Đắk Lắk; - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk; - VKSND huyện Krông Năng; - Công an huyện Krông Năng; - THADS huyện Krông Năng; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu HSVA, VPCQ. | T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đoàn Thị Thu Trang |