vanban.org

Bản án 20/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Cần Đước, tỉnh Long An Tuyên án 15/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P 01(một) năm 06(sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/7/2020). Giao bị cáo Nguyễn Tấn P cho Ủy ban nhân dân xã T huyện C, tỉnh L theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Tấn P " vi phạm quy định tham gia giao thông đường bộ" - phạm tội vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (điều 260 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN C Đ
TỈNH L
–––––––––––––––

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 20/2020/HS-ST
Ngày: 15/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C Đ, TỈNH L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Hữu Nghĩa;

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thành

Ông Nguyễn Ngọc Thi

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh L.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh L tham gia phiên tòa: Ông Đỗ Ngọc Lợi - Kiểm sát viên sơ cấp.

Ngày 15 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 15/2020/TLST-HS ngày 01 tháng 6 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 17/2020/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo:

Nguyễn Tấn P; Tên gọi khác: Đen; Sinh năm: 1978; Tại: L; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: ấp B, xã T, huyện C, tỉnh L; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Giới tính: Nam; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không; Con ông: Nguyễn Văn Lợi và bà: Võ Thị Huê; Vợ: Trần Ngọc Thúy; Có 02 người; Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cứ trú từ ngày 18/03/2020 cho đến nay (Có mặt tại phiên tòa).

- Người bị hại: Ông Phạm Văn Ch, sinh năm: 1949 (đã chết);

Người đại diện hợp pháp của người bị hại: Bà Phan Thị Xuân M, sinh năm 1954 (Bà M là vợ ông Ch);

Nơi cư trú: Ấp Phước Hưng, xã PL, huyện G, tỉnh L (Xin xét xử vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/ Bà Phạm Thị Xuân M, sinh năm 1954 (Xin xét xử vắng mặt);

2/ Chị Phan Xuân V, sinh năm 1982 (Có mặt);

Cùng cư trú: Ấp Phước Hưng, xã PL, huyện G, tỉnh L.

- Người làm chứng:

1/ Anh Châu Tá N, sinh năm: 1974 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp Rạch Bộng, xã T, huyện C, tỉnh L.

2/ Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1985 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện C, tỉnh L.

3/ Bà Nguyễn Thị Nh, sinh năm: 1958 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp 2, xã TT, huyện C, tỉnh L.

4/ Anh Phạm Văn T, sinh năm: 1979 (Vắng mặt);

Địa chỉ: Ấp Mỹ Tây, xã M, huyện C, tỉnh L.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi của bị cáo: Khoảng 15 giờ ngày 18/11/2019, Nguyễn Tấn P có giấy phép lái xe, điều khiển xe ba gác máy biển kiểm soát 63H5 – 1863 chở khoảng 34 bao lúa, tham gia lưu thông trên đường tỉnh 826, hướng từ cầu Rạch Đào đến chợ Rạch Kiến. Khi đến đoạn đường thuộc khu vực ấp 2, xã TT, huyện C, P thấy có xe mô tô biển kiểm soát 51V4 – 0313 do ông Phạm Văn Ch điều khiển lưu thông cùng chiều phía trước. Thời điểm này hướng ngược chiều có xe ô tô con vượt bên trái xe tải và lấn sang phần đường dành cho xe lưu thông theo hướng của P. Do chạy gần với xe của ông Ch nên P đạp thắng để xe chạy chậm lại nhưng trên xe chở nhiều lúa, ma sát yếu, xe của P vẫn chạy về phía trước nên va chạm vào đuôi xe của ông Ch, làm ông Ch và xe ngã xuống đường. Ông Ch được đưa đi cấp cứu và tử vong vào ngày 20/11/2019.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm hiện trường (dựng lại), khám nghiệm phương tiện và qua kết quả khám nghiệm, đo đạc thì xác định khu vực va chạm của 2 xe nằm hoàn toàn bên phần đường bên phải, hướng từ cầu Rạch Đào đến chợ Rạch Kiến.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 717/2019/KLGĐ ngày 10/12/2019, của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh L, kết luận:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

- Trầy xước da ngực, kích thước (6x2)cm, dẫn lưu ngực trái.

- Vết mổ vùng bụng dài 13cm, khâu 14 mũi chỉ rời.

- Vết hằn da vùng lưng dài 11cm.

- Bầm máu cẳng tay, rách da cẳng tay và mu bàn tay phải.

- Bầm tụ máu dưới da đầu.

- Dập gãy xương sườn 5,6, tụ máu trung thất.

- Thủng phổi, cắt bỏ lách, tụ máu sau phúc mạc.

- Dập và tụ máu nhiều đoạn ruột non.

2. Nguyên nhân chết: Phạm Văn Ch, sinh năm 1949 tử vong là do bị shock đa chấn thương (vỡ lách, dập phổi, gãy xương sườn, vết thương bàn tay...) đã được phẫu thuật tuyến y tế có chuyên khoa cao nhưng không đạt kết quả.

Tại kết luận giám định số 828/C09B ngày 22/01/2020 của Phân viện KHHS tại Tp.Hồ Chí Minh kết luận: Mẫu sơn màu xanh của mẫu giám định với mẫu sơn màu xanh của mẫu so sánh, được niêm P gửi giám định có thành phần hóa học cơ bản giống nhau.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo P thừa nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Bị cáo bị truy cứu về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là đúng, không oan sai. Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, bị cáo tự nguyện khai báo; không có ai đe dọa, cưỡng ép, không ai bức cung nhục hình; Bị cáo không có ý kiến về Kết luận giám định pháp y, Biên bản khám nghiệm hiện trường, Sơ đồ hiện trường, Bản ảnh hiện trường, lời khai của những người làm chứng mà Hội đồng xét xử công bố tại phiên tòa. Về trách nhiệm dân sự, bị cáo đã bồi thường số tiền 40.000.000 đồng, gồm: chi phí M táng cho gia đình bị hại.

Bà Phan Thị Xuân M là người đại diện hợp pháp của người bị hại, đồng thời là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan khai tại Cơ quan cảnh sát điều tra như sau: Bà M là vợ của ông Ch. Sau khi ông Ch bị tai nạn tử vong gia đình bị cáo P đã bồi thường số tiền 40.000.000 đồng, gồm: chi phí M táng ông Ch. Nay bà M không có yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác, kể cả tổn thất về tinh thần.

Người có quyền lợi – nghĩa vụ liên quan chị Phan Xuân V có lời trình bày tại Cơ quan cảnh sát điều tra và tại phiên tòa như sau: Chị V là con gái ruột của bà M và ông Ch. Sau khi ông Ch bị tai nạn tử vong, gia đình bị cáo P đã bồi thường số tiền 40.000.000 đồng, gồm: chi phí M táng cho ông Ch. Nay chị V không có yêu cầu bị cáo bồi thường thêm khoản nào khác, kể cả tổn thất về tinh thần.

Bản Cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 26/5/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh L truy tố bị cáo Nguyễn Tấn P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Nguyễn Tấn P đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Hành vi của bị cáo đã vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả nghiêm trọng nên cần phải xử lý nghiêm.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại và gia đình bị hại có đơn đề nghị không xử lý hình sự đối vơi bị cáo P. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân chưa có tiền án tiền sự, kể từ khi xảy ra tai nạn giao thông cho đến nay không vi phạm pháp luật nên cần xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Xét thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, cho bị cáo hưởng án treo vẫn đảm bảo răn đe, giáo dục bị cáo.

Đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P từ 01 năm đến 01năm 06 tháng tù cho bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02- 03 năm.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Gia đình người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm nên không đề cập.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo sử dụng xe ba gác máy biển kiểm soát 63H5 – 1863 để chở thuê và là nguồn thu nhập chính nên đề nghị Hội đồng xét xử miễn hình phạt theo khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Ý kiến của bị cáo về quyết định truy tố của Viện kiểm sát: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, việc bị cáo bị truy tố về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là không oan, không sai; bị cáo không có ý kiến gì về tội danh và hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị.

Người có quyền lợi – nghãi vụ liên quan chị V không có ý kiến tranh luận.

Bị cáo không có lời nói sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng: Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc kH nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét nội dung vụ án: Khoảng 15 giờ ngày 18/11/2019, Nguyễn Tấn P có giấy phép lái xe theo quy định, điều khiển xe ba gác máy biển kiểm soát 63H5 – 1863, lưu thông trên đường tỉnh 826, hướng từ cầu Rạch Đào đến chợ Rạch Kiến. Khi đến đoạn đường thuộc khu vực ấp 2, xã TT, huyện C, P điều khiển xe không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước, đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ nên va chạm với xe môtô biển số 51V4 - 0313 do ông Phạm Văn Ch điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều. Hậu quả ông Ch tử vong, do bị shock đa chấn thương.

Kết quả khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm hiện trường (dựng lại), khám nghiệm phương tiện và qua kết quả khám nghiệm, đo đạc thì xác định khu vực va chạm của 2 xe nằm hoàn toàn bên phần đường bên phải, hướng từ cầu Rạch Đào đến chợ Rạch Kiến.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về tử thi số 717/2019/KLGĐ ngày 10/12/2019, của Trung tâm pháp y thuộc Sở y tế tỉnh L, kết luận: Nguyên nhân chết: Phạm Văn Ch, sinh năm 1949 tử vong là do bị shock đa chấn thương (vỡ lách, dập phổi, gãy xương sườn, vết thương bàn tay...) đã được phẫu thuật tuyến y tế có chuyên khoa cao nhưng không đạt kết quả. Lời khai của bị cáo, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan tại phiên tòa phù hợp với tài liệu chứng cứ thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Bị cáo P điều khiển xe không giữ khoảng cách an toàn với xe phía trước, là nguyên nhân chính dẫn đến va chạm với với xe môtô biển số 51V4 - 0313 do ông Phạm Văn Ch điều khiển lưu thông phía trước cùng chiều. Hậu quả ông Ch tử vong, lỗi của bị cáo là lỗi vô ý vì quá tự tin và đã vi phạm khoản 1 Điều 12 Luật Giao thông đường bộ.

Tại điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào tham gia giao thông đường bộ mà vi phạm quy định về an toàn giao thông đường bộ gây thiệt hại cho người khác thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:

a) Làm chết người;”

Như vậy, hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 1 Điều 260 của Bộ luật Hình sự. Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa, tuyên bố bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội, bị cáo đã bồi thường một phần thiệt hại cho gia đình người bị hại và người có quyền lợi - nghĩa vụ liên quan; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đây là 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo các điểm b, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị cáo tại ngoại đã chấp hành tốt yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng, không có phản ánh vi phạm pháp luật; gia đình người bị hại có đơn đề nghị không xử lý hình sự đối với bị cáo P và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình Sự. Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Xét hình phạt:

Hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, gây hậu quả chết người. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm để đảm bảo sức răn đe phòng ngừa chung, đảm bảo tính nghiêm minh công bằng của pháp luật; đồng thời giáo dục bị cáo thành người có ích cho gia đình và xã hội. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự; bị cáo tại ngoại đã chấp hành tốt yêu cầu của các cơ quan tiến hành tố tụng, không có phản ánh vi phạm pháp luật; gia đình người bị hại có đơn đề nghị không xử lý hình sự đối vơi bị cáo P và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; bị cáo có khả năng tự cải tạo, việc cho hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự nên đủ các điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP, nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo nhưng cho hưởng án treo.

Hình phạt bổ sung: Bị cáo sử dụng xe ba gác máy biển kiểm soát 63H5 – 1863 để chở thuê và là nguồn thu nhập chính nuôi gia đình nên chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, miễn hình phạt theo khoản 5 Điều 260 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo.

Xét trách nhiệm dân sự: Bị cáo và gia đình người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan xác định phần trách nhiệm dân sự đã thỏa thuận xong, không yêu cầu bồi thường gì khác nên Hội đồng xét xử không xem xét, không đề cập.

Về vật chứng, tang vật của vụ án: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra có tạm giữ và đã trả lại xe cho chủ sở hữu là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tấn P phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135; Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 65 của Bộ luật Hình sự;

Căn cứ vào Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;

Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

Tuyên bố:

Bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P 01(một) năm 06(sáu) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (15/7/2020).

Giao bị cáo Nguyễn Tấn P cho Ủy ban nhân dân xã T huyện C, tỉnh L theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo (bị cáo P) thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo (bị cáo P) cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

Về án phí: Bị cáo Nguyễn Tấn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Án xử công khai có mặt bị cáo Nguyễn Tấn P, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa biết được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Bị cáo;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Đại diện hợp pháp người bị hại;

- Người bào chữa (Nếu có);

- Người có QLNVLQ;

- VKSND huyện C;

- TAND tỉnh L;

- VKSND tỉnh L;

HUỲNH HỮU NGHĨA

- Cơ quan CSĐT CA huyện C;

- Nhà tạm giữ Công an huyện C;

- Cơ quan Thi hành án Hình sự;

- Cơ quan Thi hành án Dân sự;

- Lưu: Án văn, Hồ sơ vụ án;

Hướng dẫn sử dụng mẫu số 27-HS:

Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo bản hướng dẫn này được soạn thảo theo tinh thần quy định tại các điều 254, 260 và 423 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo hướng dẫn này được sử dụng cho tất cả các Tòa án khi xét xử sơ thẩm vụ án hình sự. Sau đây là những hướng dẫn cụ thể về việc sử dụng mẫu bản án hình sự sơ thẩm kèm theo:

(1) và (4) nếu là Tòa án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh thì ghi tên Tòa án nhân dân quận (huyện, thị xã, thành phố) gì thuộc tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương nào (ví dụ: Tòa án nhân dân huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An); nếu là Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thì ghi tên Tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (ví dụ: Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội); nếu là Tòa án quân sự khu vực thì ghi tên Tòa án quân sự khu vực gì thuộc quân khu, quân chủng nào; nếu là Tòa án quân sự quân khu, quân chủng thì ghi tên Tòa án quân sự quân khu, quân chủng (ví dụ: Tòa án quân sự Quân khu Thủ đô).

(2) ô thứ nhất ghi số Bản án, ô thứ hai ghi năm ra Bản án (ví dụ: 16/2017/HS-ST).

(3) ghi ngày, tháng, năm tuyên án không phân biệt vụ án được xét xử sơ thẩm và kết thúc trong một ngày hay được xét xử sơ thẩm trong nhiều ngày hoặc nghị án kéo dài.

(5) nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm ba người, thì chỉ ghi đầy đủ họ tên của

Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, bỏ dòng Thẩm phán..., đối với Hội thẩm nhân dân (quân nhân) chỉ ghi đầy đủ họ tên của hai Hội thẩm nhân dân (quân nhân); nếu Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có năm người, thì ghi đầy đủ họ tên của Thẩm phán chủ tọa phiên tòa, họ tên của Thẩm phán, họ tên của cả ba Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Cần chú ý không ghi chức vụ của Thẩm phán; đối với vụ án hình sự thông thường thì không ghi chức vụ, nghề nghiệp của

Hội thẩm nhân dân (quân nhân); đối với vụ án hình sự có bị cáo là người dưới 18 tuổi thì ghi nghề nghiệp của Hội thẩm nhân dân (quân nhân). Nếu vụ án do Tòa án quân sự giải quyết thì không ghi Ông (Bà) mà ghi cấp bậc quân hàm.

(6) ghi đầy đủ họ tên của Thư ký phiên tòa và ghi rõ là Thư ký Tòa án hoặc Thẩm tra viên của Tòa án nào như hướng dẫn tại điểm (1).

(7) ghi tên Viện kiểm sát như hướng dẫn tại (1); ghi họ tên Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử tại phiên tòa.

(8) trường hợp vụ án được xét xử và kết thúc trong một ngày thì bỏ hai chữ Trong các (ví dụ: Ngày 15 tháng 7 năm 2017). Trường hợp vụ án được xét xử trong hai ngày thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 02, 03 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà liền nhau thì ghi Từ ngày đến ngày (ví dụ: Từ ngày 06 đến ngày 10 tháng 3 năm 2017); nếu từ ba ngày trở lên mà không liền nhau thì ghi Trong các ngày (ví dụ: Trong các ngày 07, 08 và ngày 15 tháng 3 năm 2017); nếu khác tháng mà liền nhau thì ghi từ ngày... tháng... đến ngày... tháng... (ví dụ: Từ ngày 31 tháng 05 đến ngày 02 tháng 6 năm 2017); nếu không liền nhau thì ghi các ngày của từng tháng (Ví dụ: Trong các ngày 30, 31 tháng 3 và các ngày 04, 05 tháng 4 năm 2017).

(9) nếu vụ án được xét xử tại trụ sở Tòa án thì ghi như hướng dẫn tại mục (1) (4). Nếu vụ án được xét xử lưu động thì ghi địa điểm nơi diễn ra phiên tòa.

(10) nếu xét xử kín thì thay cụm từ công khai bằng từ kín.

(11) và (12) ghi đầy đủ họ tên bị cáo và các bí danh, tên thường gọi khác (nếu có); nếu bị cáo là người dưới 18 tuổi phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh tính đến ngày bị cáo thực hiện hành vi phạm tội (ví dụ: Đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo 16 tuổi 8 tháng 15 ngày); nếu bị cáo trên 18 tuổi thì ghi ngày, tháng, năm sinh hoặc tuổi; ghi nơi đăng ký thường trú, đăng ký tạm trú, nơi sinh sống của bị cáo. Đối với tiền sự thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị xử lý đó tính đến ngày phạm tội chưa hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật. Đối với tiền án thì chỉ ghi khi đã xác định đúng theo quy định của pháp luật lần bị kết án đó tính đến ngày phạm tội chưa được xoá án. Về nhân thân ghi án tích, đã bị xử phạt vi phạm hành chính, đã xử lý kỷ luật cụ thể các lần đó và ghi rõ là các án tích, xử phạt vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật đó đã được xoá. Trường hợp bị cáo là pháp nhân thương mại thì ghi tên, địa chỉ trụ sở, tên người đại diện theo pháp luật, tiền án, tiền sự của pháp nhân thương mại và các thông tin cần thiết khác; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(13) ghi ngày bị cáo bị bắt, tạm giam; nếu trước đó bị cáo đã bị tạm giữ, bị bắt, tạm giam, thì ghi ngày bị tạm giữ, ngày bị bắt, tạm giam và ngày được cho tại ngoại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(14) và (15) nếu bị cáo có người đại diện hợp pháp th́ ghi rõ họ tên của bị cáo đó (ví dụ: Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Văn A). Sau chữ là ghi quan hệ như thế nào với bị cáo (ví dụ: là bố của bị cáo); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(16) nếu có người bào chữa thì ghi đầy đủ họ tên của người bào chữa và họ tên của bị cáo được bào chữa; nếu người bào chữa là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào (ví dụ: Ông Trần B, Luật sư Văn phòng luật sư Vạn Xuân thuộc Đoàn luật sư tỉnh H bào chữa cho Nguyễn Văn C); nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bào chữa (ví dụ: Bà Lê Thị M, bào chữa viên nhân dân công tác tại Hội luật gia tỉnh M bào chữa cho Nguyễn Văn D); nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(17), (18), (19), (20), (21), (22), (23) và (24) nếu có người nào tham gia tố tụng thì ghi đầy đủ họ tên, tuổi, nơi cư trú của người đó. Trường hợp bị hại là người bị xâm phạm về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự và là người dưới 18 tuổi, thì phải ghi đầy đủ ngày, tháng, năm sinh của bị hại; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi “có mặt” và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi “vắng mặt”.

(25) nếu bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có người bảo vệ quyền lợi cho họ, thì ghi đầy đủ họ tên của họ theo thứ tự; nếu người bảo vệ quyền lợi của đương sự là luật sư thì ghi luật sư của Văn phòng luật sư nào và thuộc Đoàn luật sư nào; nếu không phải là luật sư thì ghi nghề nghiệp, nơi công tác của người bảo vệ quyền lợi cho đương sự; nếu có mặt tại phiên tòa thì ghi có mặt và nếu vắng mặt tại phiên tòa thì ghi vắng mặt.

(26) nếu có người tham gia tố tụng là người làm chứng thì ghi đầy đủ họ tên; nếu người tham gia tố tụng là người giám định, người định giá tài sản, người phiên dịch, người dịch thuật thì ghi đầy đủ họ tên, cơ quan công tác.

(27) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm b và điểm c khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(28) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại các điểm d, đ và e khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Trong phần này, các đoạn văn được đánh số thứ thự trong dấu [ ].

(29) tùy từng trường hợp mà ghi rõ căn cứ pháp luật để ra quyết định.

(30) trong phần này, ghi đầy đủ các nội dung được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 260 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

(31) phần cuối cùng của bản án, đối với bản án được thông qua tại phòng nghị án thì phải có đầy đủ chữ ký, ghi đầy đủ họ tên của các thành viên Hội đồng xét xử và đóng dấu (bản án này phải lưu vào hồ sơ vụ án); đối với bản án để gửi cho các bị cáo, các đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và Viện kiểm sát theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự thì ghi như sau:

Cỡ chữ